Sunday, December 3, 2023

Tuệ Sỹ 4 - Thi điếu

 
THI ĐIẾU TƯỞNG NIỆM GIÁC LINH NGƯỜI
 Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Sinh diệt tợ đốm hoa
Sắc không như ánh chớp
Đám mây trắng ngàn năm ly hợp
Cõi bụi hồng muôn kiếp tụ tan
Hậu học sa-môn thương tiếc, bàng hoàng
Tứ chúng đoanh vây, trái tim lệ chảy
Lẽ vô thường xót đau ba cõi
Luật hữu vi băng giá một trời
Trưởng lão ra đi,
Núi non tâm, đạo đức cao ngời
Sông biển trí, nhân văn bát ngát
Chẳng lẽ từ đây
Đúng thời mạt pháp
Cành nhánh khô gầy
Cỗi gốc cũng điêu linh
Nhìn đăm đăm trang giấy vô tình,
Không nói được tấm lòng bi điếu
Tay run mỏi, chữ thừa, lời thiếu
Dẫu mưa rơi, sương rỉ chương ngàn
Bút lẽ nào, tre chẻ Lĩnh Nam!
Mực không thể, nước đong Đông Hải!
Người đã trải lá bối Dệt vầng trăng
Thiên thu soi đuốc tuệ
Ánh chớp hiện, nghi dung đại sĩ
Đốm hoa lưu, linh ảnh chân nhân
Thoáng trăm năm đại nguyện vi trần
Đàm hoa rụng thơm hương,
Lại rơi, lại rơi…
Rơi vào dòng bất tử…
Trưởng lão ra đi
Cỗi tùng già lá xanh bật khóc
Đất thiền lâm hiu hắt giọt sương khô
Dòng nước xao, hình núi lặng tờ
Làn mây thoảng, ánh sao vời vợi!
Hỡi ôi!
Nhớ Giác linh xưa
Thế danh Đinh Văn Nam
Sinh năm Mậu Ngọ
Nguyên quán Kim Khuê Nghi Lộc, Nghệ An
Từ nhỏ lớn lên
Nuôi chí sách đèn
Năm
 ba chín lấy bằng cao đẳng
Và sự học, thuyền êm, biển lặng
Một chín bốn mươi lại đỗ tú toàn
Bởi cơm, bởi áo – làm việc tòa khâm
Vì nước, vì dân – dốc lòng phụng sự
Ngày cau mặt, xót điều phi lý
Đêm nhức đầu, đau chuyện bất công

Bởi vậy cho nên
Bỏ cửa quan, quay gót, rảnh lòng

Rời đường hoạn, phủi tay, lìa bụi
Rồi từ đó
Hiểu nghiệp quả, ra công học Phật
Biết duyên đời, gắng sức nghiên kinh
Sáng lập đoàn Đức Dục thanh niên
Lại dựng xây gia đình Hóa Phổ
Hiểu
 sức mạnh Tăng sinh tuổi trẻ
Chung
 tay lo học viện Kim Sơn
Rồi lại thêm Báo Quốc học đường
Không mệt mỏi ươm mầm giáo pháp
Năm
 bốn sáu xuất gia đầu Phật
Chùa Tường Vân, cố Tăng thống Ân sư
Bút mực, sách đèn – sớm tối kinh thư

Rau muối, tương dưa – tháng ngày công hạnh
Năm bốn chín, duyên tu thuận cảnh
Báo Quốc giới đàn minh chứng thập sư
Đặc cách thọ Tam đàn cụ túc
Minh Châu pháp tự, Viên Dung pháp hiệu
Tâm Bồ-đề từ đây kiên cường, vững chãi
Ghé hội, đoàn – rèn tâm giảng pháp

Đến chùa, am – tập trí bàn kinh
Những tháng, những năm Tạp chí Viên Âm,
Tạp
 chí Từ Quang… góp bài viết đạo tình
Chọn ý ngọc gieo ươm chánh tín
Lựa lời châu bày tỏ duyên căn
Trường trung học Bồ Đề – hiệu trưởng đầu tiên
Với giới nghi, đầu tròn, áo vuông
Bằng mô phạm, mắt xanh, viên trắng
Gót nhập thế, đạo đời tương đẳng
Đuốc từ bi, lặng lẽ lên đường
Một chín năm hai, đạt nguyện xuất dương
Đến Thiên Trúc tìm thầy học đạo
Gương Nghĩa Tịnh ngời soi Bắc quốc
Trăng Huyền Tráng chiếu rọi Nam bang
Vò võ đất nghèo, pháp học ra công
Quạnh quẽ phòng đơn, quặng vàng thử lửa
Thấy cám dỗ, nhẹ nhàng đóng cửa
Nghe rủ rê, thanh thản quay lưng
Gian khổ nhiều năm, nuôi chí hạc hồng
Bay vạn dặm câu kinh, con chữ
Anh, Hán ra sức nghiên tầm,
Sanskrit – Pāli, cố công đối so cổ ngữ
Quyết mò châu đáy biển từ nguyên
Tay
 mỏi, mắt đau
Tìm cho ra giọt nước trinh tuyền
Tự suối nguồn trong ngần giáo pháp
Chẳng nệ hà thử thách,

Nào sá quản gian lao
Cay đắng, chát chua – quả vị ngọt ngào
Cơ cực, khó khăn – hoa hương vi diệu
Hai cử nhân Pāli – Anh dấu son khoa biểu
Cao học A-tỳ-đàm nhẹ lấy thủ khoa
Đỗ tiến sĩ Phật học,
Văn học Pāli – đứng đệ nhất tòa
Tổng
 thống Ấn Độ đích thân trao bằng danh dự
Đại học Tích Lan, thêm bằng Pháp sư bổ xứ
Là Sa-môn Việt đầu tiên xuất sắc nguyên khôi
Cầm đuốc tiên phong học thuật sáng ngời
Lấy duệ trí phát quang con đường đại học
Một chín sáu tư lên tàu về nước
Rồi trọn tuổi trời lá bối chép kinh
“Thị nghiệp” một đời “duy tuệ” đăng trình… 
Nhớ Giác linh xưa
Thế danh Đinh Văn Nam
Sinh năm Mậu Ngọ
Nguyên quán Kim Khuê Nghi Lộc, Nghệ An
Từ nhỏ lớn lên
Nuôi chí sách đèn
Năm ba chín lấy bằng cao đẳng
Và sự học, thuyền êm, biển lặng
Một chín bốn mươi lại đỗ tú toàn
Bởi cơm, bởi áo – làm việc tòa khâm
Vì nước, vì dân – dốc lòng phụng sự
Ngày cau mặt, xót điều phi lý
Đêm nhức đầu, đau chuyện bất công
Bởi vậy cho nên
Bỏ cửa quan, quay gót, rảnh lòng
Rời đường hoạn, phủi tay, lìa bụi
Rồi từ đó
Hiểu nghiệp quả, ra công học Phật
Biết duyên đời, gắng sức nghiên kinh
Sáng lập đoàn Đức Dục thanh niên
Lại dựng xây gia đình Hóa Phổ
Hiểu sức mạnh Tăng sinh tuổi trẻ
Chung tay lo học viện Kim Sơn
Rồi lại thêm Báo Quốc học đường
Không mệt mỏi ươm mầm giáo pháp
Năm bốn sáu xuất gia đầu Phật
Chùa Tường Vân, cố Tăng thống Ân sư
Bút mực, sách đèn – sớm tối kinh thư
Rau muối, tương dưa – tháng ngày công hạnh
Năm bốn chín, duyên tu thuận cảnh
Báo Quốc giới đàn minh chứng thập sư
Đặc cách thọ Tam đàn cụ túc
Minh Châu pháp tự, Viên Dung pháp hiệu
Tâm Bồ-đề từ đây kiên cường, vững chãi
Ghé hội, đoàn – rèn tâm giảng pháp
Đến chùa, am – tập trí bàn kinh
Những tháng, những năm Tạp chí Viên Âm,
Tạp chí Từ Quang… góp bài viết đạo tình
Chọn ý ngọc gieo ươm chánh tín
Lựa lời châu bày tỏ duyên căn
Trường trung học Bồ Đề – hiệu trưởng đầu tiên
Với giới nghi, đầu tròn, áo vuông
Bằng mô phạm, mắt xanh, viên trắng
Gót nhập thế, đạo đời tương đẳng
Đuốc từ bi, lặng lẽ lên đường
Một chín năm hai, đạt nguyện xuất dương
Đến Thiên Trúc tìm thầy học đạo
Gương Nghĩa Tịnh ngời soi Bắc quốc
Trăng Huyền Tráng chiếu rọi Nam bang
Vò võ đất nghèo, pháp học ra công
Quạnh quẽ phòng đơn, quặng vàng thử lửa
Thấy cám dỗ, nhẹ nhàng đóng cửa
Nghe rủ rê, thanh thản quay lưng
Gian khổ nhiều năm, nuôi chí hạc hồng
Bay vạn dặm câu kinh, con chữ
Anh, Hán ra sức nghiên tầm,
Sanskrit – Pāli, cố công đối so cổ ngữ
Quyết mò châu đáy biển từ nguyên
Tay mỏi, mắt đau
Tìm cho ra giọt nước trinh tuyền
Tự suối nguồn trong ngần giáo pháp
Chẳng nệ hà thử thách,
Nào sá quản gian lao
Cay đắng, chát chua – quả vị ngọt ngào
Cơ cực, khó khăn – hoa hương vi diệu
Hai cử nhân Pāli – Anh dấu son khoa biểu
Cao học A-tỳ-đàm nhẹ lấy thủ khoa
Đỗ tiến sĩ Phật học,
Văn học Pāli – đứng đệ nhất tòa
Tổng thống Ấn Độ đích thân trao bằng danh dự
Đại học Tích Lan, thêm bằng Pháp sư bổ xứ
Là Sa-môn Việt đầu tiên xuất sắc nguyên khôi
Cầm đuốc tiên phong học thuật sáng ngời
Lấy duệ trí phát quang con đường đại học
Một chín sáu tư lên tàu về nước
Rồi trọn tuổi trời lá bối chép kinh
“Thị nghiệp” một đời “duy tuệ” đăng trình… 
Nhớ Giác linh xưa
Thế danh Đinh Văn Nam
Sinh năm Mậu Ngọ
Nguyên quán Kim Khuê Nghi Lộc, Nghệ An
Từ nhỏ lớn lên
Nuôi chí sách đèn
Năm ba chín lấy bằng cao đẳng
Và sự học, thuyền êm, biển lặng
Một chín bốn mươi lại đỗ tú toàn
Bởi cơm, bởi áo – làm việc tòa khâm
Vì nước, vì dân – dốc lòng phụng sự
Ngày cau mặt, xót điều phi lý
Đêm nhức đầu, đau chuyện bất công
Bởi vậy cho nên
Bỏ cửa quan, quay gót, rảnh lòng
Rời đường hoạn, phủi tay, lìa bụi
Rồi từ đó
Hiểu nghiệp quả, ra công học Phật
Biết duyên đời, gắng sức nghiên kinh
Sáng lập đoàn Đức Dục thanh niên
Lại dựng xây gia đình Hóa Phổ
Hiểu sức mạnh Tăng sinh tuổi trẻ
Chung tay lo học viện Kim Sơn
Rồi lại thêm Báo Quốc học đường
Không mệt mỏi ươm mầm giáo pháp
Năm bốn sáu xuất gia đầu Phật
Chùa Tường Vân, cố Tăng thống Ân sư
Bút mực, sách đèn – sớm tối kinh thư
Rau muối, tương dưa – tháng ngày công hạnh
Năm bốn chín, duyên tu thuận cảnh
Báo Quốc giới đàn minh chứng thập sư
Đặc cách thọ Tam đàn cụ túc
Minh Châu pháp tự, Viên Dung pháp hiệu
Tâm Bồ-đề từ đây kiên cường, vững chãi
Ghé hội, đoàn – rèn tâm giảng pháp
Đến chùa, am – tập trí bàn kinh
Những tháng, những năm Tạp chí Viên Âm,
Tạp chí Từ Quang… góp bài viết đạo tình
Chọn ý ngọc gieo ươm chánh tín
Lựa lời châu bày tỏ duyên căn
Trường trung học Bồ Đề – hiệu trưởng đầu tiên
Với giới nghi, đầu tròn, áo vuông
Bằng mô phạm, mắt xanh, viên trắng
Gót nhập thế, đạo đời tương đẳng
Đuốc từ bi, lặng lẽ lên đường
Một chín năm hai, đạt nguyện xuất dương
Đến Thiên Trúc tìm thầy học đạo
Gương Nghĩa Tịnh ngời soi Bắc quốc
Trăng Huyền Tráng chiếu rọi Nam bang
Vò võ đất nghèo, pháp học ra công
Quạnh quẽ phòng đơn, quặng vàng thử lửa
Thấy cám dỗ, nhẹ nhàng đóng cửa
Nghe rủ rê, thanh thản quay lưng
Gian khổ nhiều năm, nuôi chí hạc hồng
Bay vạn dặm câu kinh, con chữ
Anh, Hán ra sức nghiên tầm,
Sanskrit – Pāli, cố công đối so cổ ngữ
Quyết mò châu đáy biển từ nguyên
Tay mỏi, mắt đau
Tìm cho ra giọt nước trinh tuyền
Tự suối nguồn trong ngần giáo pháp
Chẳng nệ hà thử thách,
Nào sá quản gian lao
Cay đắng, chát chua – quả vị ngọt ngào
Cơ cực, khó khăn – hoa hương vi diệu
Hai cử nhân Pāli – Anh dấu son khoa biểu
Cao học A-tỳ-đàm nhẹ lấy thủ khoa
Đỗ tiến sĩ Phật học,
Văn học Pāli – đứng đệ nhất tòa
Tổng thống Ấn Độ đích thân trao bằng danh dự
Đại học Tích Lan, thêm bằng Pháp sư bổ xứ
Là Sa-môn Việt đầu tiên xuất sắc nguyên khôi
Cầm đuốc tiên phong học thuật sáng ngời
Lấy duệ trí phát quang con đường đại học
Một chín sáu tư lên tàu về nước
Rồi trọn tuổi trời lá bối chép kinh
“Thị nghiệp” một đời “duy tuệ” đăng trình… 
Hỡi ôi!
Nhớ Giác linh xưa
Tịch mịch con đường
Thề không đổi chí khí kiên cường
Nguyện chẳng rời kinh văn dị giản
Muốn học Nhật Nam tăng
Cửa tùng đôi cánh gài
Dịch kinh trên lá chuối
Bông mây rụng áo phơi
Lại
 noi  Ngại Thượng Nhân
Giữa đời xa phiền não
Trong phố dựng già-lam
Nhuận văn, hương ngát cõi
Soạn sách, bút thơm lan
Chầu thiền, câu xanh mớm
Nghe giảng, vượn trắng dòm
Dầu can qua biến động
Dẫu rào cản trùng vây
Xem cát chạy, đá bay

Ngắm sóng dồn, gió dập
Cay cay mắt – bụi mây vinh nhục
Xót xót tai – lời gió thị phi
Đời tối, đêm đen, đội chữ mà đi
Phụng hiến nhân văn, lương sư hưng quốc
Gương Vạn Hạnh, trụ thiền chống cột
Hộ pháp ba triều, xã tắc bình yên
Hiền đức, hiền tài, nguyên khí càn khôn
Đã vạn quyển khuyên son

Đã trăm kinh thắp lửa
Đêm cô tịch đốt đèn soi ngữ nghĩa
Thương Tăng Ni kinh chữ mượn vay
Đâu quản cao sơn, gió lạnh lắt lay
Chẳng nệ bối kinh, chợ chiều bạc bẽo

Bút chánh pháp kế thừa ân di giáo
Thoảng ngoài tai tám pháp thế gian!
Đã liễu tri định luật bất toàn
Đã giác ngộ căn nhân khổ đế
Nên việc đến, tùy duyên xử sự
Gió qua rồi ruột trúc rỗng không
Mỉm
 danh thân – gió sóng phiêu bồng!
Cười sự nghiệp – sương mây phiếu diễu!
Đại trí giữa đời, cung đàn lạc điệu
Sao lẻ đêm đông, buốt lạnh thái hư!
Trưởng
 lão ra đi, an lạc nhiên như
Tăng Ni hậu học, tàn che cô quạnh
Giữa cát bụi, ngời soi giáo hạnh
Trong sa mù, rạng chiếu chân dung

Thấy
 tiết thu, sương giọt bảy dòng
Nghe thời thế, gió xao ba khoảnh
Tâm
 nhân giả, lợi danh khô lạnh
Đức trượng phu, tài sắc rỗng rang
Năng lượng từ bi, hòa ái, dịu dàng
Bởi thế cho nên
Quyền biến cơ tùy

Thân hành, ngôn giáo
Chân dung sáng, nụ cười hoan hỷ
Khiêm hư một đời
Lặng lẽ bóng hòa trăng
Mà hãy thôi
Trưởng
 lão đã trở về với cố quận, gia hương
Chẳng
 hữu chẳng thường
Không sinh không diệt
Cánh hạc vàng thiên thu bái biệt
Thiên hà ngôn tai
Vạn sự như lai
Giác linh đã như lai như khứ…
Cửa tùng đôi cánh gài
Dịch kinh trên lá chuối
Bông mây rụng áo phơi
Lại noi  Ngại Thượng Nhân
Giữa đời xa phiền não
Trong phố dựng già-lam
Nhuận văn, hương ngát cõi
Soạn sách, bút thơm lan
Chầu thiền, câu xanh mớm
Nghe giảng, vượn trắng dòm
Dầu can qua biến động
Dẫu rào cản trùng vây
Xem cát chạy, đá bay
Ngắm sóng dồn, gió dập
Cay cay mắt – bụi mây vinh nhục
Xót xót tai – lời gió thị phi
Đời tối, đêm đen, đội chữ mà đi
Phụng hiến nhân văn, lương sư hưng quốc
Gương Vạn Hạnh, trụ thiền chống cột
Hộ pháp ba triều, xã tắc bình yên
Hiền đức, hiền tài, nguyên khí càn khôn
Đã vạn quyển khuyên son
Đã trăm kinh thắp lửa
Đêm cô tịch đốt đèn soi ngữ nghĩa
Thương Tăng Ni kinh chữ mượn vay
Đâu quản cao sơn, gió lạnh lắt lay
Chẳng nệ bối kinh, chợ chiều bạc bẽo
Bút chánh pháp kế thừa ân di giáo
Thoảng ngoài tai tám pháp thế gian!
Đã liễu tri định luật bất toàn
Đã giác ngộ căn nhân khổ đế
Nên việc đến, tùy duyên xử sự
Gió qua rồi ruột trúc rỗng không
Mỉm danh thân – gió sóng phiêu bồng!
Cười sự nghiệp – sương mây phiếu diễu!
Đại trí giữa đời, cung đàn lạc điệu
Sao lẻ đêm đông, buốt lạnh thái hư!
Trưởng lão ra đi, an lạc nhiên như
Tăng Ni hậu học, tàn che cô quạnh
Giữa cát bụi, ngời soi giáo hạnh
Trong sa mù, rạng chiếu chân dung
Thấy tiết thu, sương giọt bảy dòng
Nghe thời thế, gió xao ba khoảnh
Tâm nhân giả, lợi danh khô lạnh
Đức trượng phu, tài sắc rỗng rang
Năng lượng từ bi, hòa ái, dịu dàng
Bởi thế cho nên
Quyền biến cơ tùy
Thân hành, ngôn giáo
Chân dung sáng, nụ cười hoan hỷ
Khiêm hư một đời
Lặng lẽ bóng hòa trăng
Mà hãy thôi
Trưởng lão đã trở về với cố quận, gia hương
Chẳng hữu chẳng thường
Không sinh không diệt
Cánh hạc vàng thiên thu bái biệt
Thiên hà ngôn tai
Vạn sự như lai
Giác linh đã như lai như khứ…
Cửa tùng đôi cánh gài
Dịch kinh trên lá chuối
Bông mây rụng áo phơi
Lại noi  Ngại Thượng Nhân
Giữa đời xa phiền não
Trong phố dựng già-lam
Nhuận văn, hương ngát cõi
Soạn sách, bút thơm lan
Chầu thiền, câu xanh mớm
Nghe giảng, vượn trắng dòm
Dầu can qua biến động
Dẫu rào cản trùng vây
Xem cát chạy, đá bay
Ngắm sóng dồn, gió dập
Cay cay mắt – bụi mây vinh nhục
Xót xót tai – lời gió thị phi
Đời tối, đêm đen, đội chữ mà đi
Phụng hiến nhân văn, lương sư hưng quốc
Gương Vạn Hạnh, trụ thiền chống cột
Hộ pháp ba triều, xã tắc bình yên
Hiền đức, hiền tài, nguyên khí càn khôn
Đã vạn quyển khuyên son
Đã trăm kinh thắp lửa
Đêm cô tịch đốt đèn soi ngữ nghĩa
Thương Tăng Ni kinh chữ mượn vay
Đâu quản cao sơn, gió lạnh lắt lay
Chẳng nệ bối kinh, chợ chiều bạc bẽo
Bút chánh pháp kế thừa ân di giáo
Thoảng ngoài tai tám pháp thế gian!
Đã liễu tri định luật bất toàn
Đã giác ngộ căn nhân khổ đế
Nên việc đến, tùy duyên xử sự
Gió qua rồi ruột trúc rỗng không
Mỉm danh thân – gió sóng phiêu bồng!
Cười sự nghiệp – sương mây phiếu diễu!
Đại trí giữa đời, cung đàn lạc điệu
Sao lẻ đêm đông, buốt lạnh thái hư!
Trưởng lão ra đi, an lạc nhiên như
Tăng Ni hậu học, tàn che cô quạnh
Giữa cát bụi, ngời soi giáo hạnh
Trong sa mù, rạng chiếu chân dung
Thấy tiết thu, sương giọt bảy dòng
Nghe thời thế, gió xao ba khoảnh
Tâm nhân giả, lợi danh khô lạnh
Đức trượng phu, tài sắc rỗng rang
Năng lượng từ bi, hòa ái, dịu dàng
Bởi thế cho nên
Quyền biến cơ tùy
Thân hành, ngôn giáo
Chân dung sáng, nụ cười hoan hỷ
Khiêm hư một đời
Lặng lẽ bóng hòa trăng
Mà hãy thôi
Trưởng lão đã trở về với cố quận, gia hương
Chẳng hữu chẳng thường
Không sinh không diệt
Cánh hạc vàng thiên thu bái biệt
Thiên hà ngôn tai
Vạn sự như lai
Giác linh đã như lai như khứ…
Đê đầu kính điếu Hậu học sa-môn.
Huế – Thu sương trắng
Rừng Thiền Huyền Không Sơn Thượng


KÍNH DÂNG TUỆ SỸ THƯỢNG NHÂN
Thích Nguyên Hiền
 
Cuộc lữ hề đi thôi
Vượt thác ghềnh hề chèo với trăng
Mang mang hề đất trời
Mơ Trường Sơn hề Thiên lý độc hành.
Thưa bậc Thiện tuệ!
Hỏi trang Thượng sỹ!
Người từ đâu đến
Người đi về đâu?

Hỏi gió Trường sơn, mặc khách về đâu, chỉ thấy rừng cây, đứng ngắm trăng ngàn mơ huyễn thoại
Gọi triều Đông hải, cô thuyền ẩn tích, mới hay con sóng, xóa nhòa vết nhạn giữa tầng không.
Gõ thất Duy-ma, thất chủ đã lên Hương Tích mượn bồ đoàn, tám vạn bốn ngàn tòa đãi khách
Vào hang Ca-diếp, Đầu đà đang ẩn Kê Túc đợi Từ thị, thiên bá ức linh tải chờ người.

Hỏi Trúc Đạo Sinh đá gật đầu cười
Đến Đường Lâm Tế sư rền giọng hét
Bụi chẳng thèm bay, bóng trúc quét
Nước không gợn sóng, ánh trăng soi
Tào Khê chảy mãi không lời
Linh sơn mây trắng ngàn đời du du.
Kính lạy Giác linh Tôn sư!
Con về lạy dưới chân Thầy
Nghe bao pháp nhũ đủ đầy trong tâm
Chùa xưa vọng tiếng chuông trầm
Cỏ cây mây nước cũng thầm dâng hương.
Nhớ Giác linh xưa!
Hương quán Quảng Bình
Xuất sanh Pakxé
Ấu niên vào chùa ngâm kinh xướng kệ
Bảy tuổi hồi hương học đạo hành Thiền.
Hải Đức Nha Trang quy tụ trí thức ba miền
Quảng Hương Già Lam thu hút anh tài khắp chốn.
Học đường Vạn Hạnh gửi tâm tư giữa trời Nam hỗn độn
Tạp chí Tư Tưởng dâng ý nguyện về Phật Việt thiêng liêng.
Viết sách, làm thơ, chơi nhạc tùy duyên
Khảo cứu, biên thư, dịch thuật mẫn cán.
Khóc vận mệnh bao phen khi quê hương lửa đạn
Buồn trí thức nửa mùa lúc tổ quốc lâm nguy
Giun dế cắn đứt cà non Người vì đời đổ lệ tàm ty
Bọ rùa nhắm tàn dãy bí Thầy phong kín nổi hờn ngoan thạch. (1)
Dấn thân ư? Oan ức không cần biện bạch
Tù đày ư? Khóa miệng cũng vẫn hành Thiền
Trở về sau bản án chung niên
Dựng lại cả một miền Tuệ giác.
Đem cái học Khổ, Không hỏi ngài Duy-ma-cật
Vận hùng tâm Thọ, Nguyện vấn hoàng hậu Thắng Man
A-tỳ-đạt-ma Câu-xá ngàn trang
Trường, Trung, Tạp, Tăng A-hàm bốn bộ.
Truyền thống tổ tiên đang dần vào tuyệt lộ
Đại lao cổ đức làm Bỉnh pháp Tỳ-kheo
Cô thân giữ vững tay chèo
Tử sinh bóng hạc bọt bèo trường không.
Kính lạy Giác linh Tôn sư!
Tổ quốc bốn mươi kỷ tâm linh, rót xuống trăm năm đấng Tuệ tài kiệt xuất
Quê hương hai ngàn năm Phật giáo, vọng về thời đại bậc Sỹ khí vô song.
Tuệ ngọc ngời soi, ngoan thạch châu tuần, trí đức bàng hoàng trời kinh viện
Giới châu ánh hiện, mây ngàn hội tụ, biện tài chất ngất đất già-lam
Tuyết lãnh hạc gầy, nhả hạt linh đơn, chữ nghĩa tam thiên dậy ba đào bốn biển
Hằng giang nguyệt ấn, khơi nguồn huyền thoại, kinh thư bát vạn nhòa cổ lục năm châu.
Giấc Mơ Trường Sơn gọi gió biển về đâu
Ngục Trung Mỵ Ngữ (2) gieo u sầu nhân thế
Độc đối thanh tùng kể lể
Đạp trước hồng lô ngủ vùi

Độc đối thanh tùng kể lể
Đạp trước hồng lô ngủ vùi (3)
Thỏng tay vào chợ rong chơi
Dời trang Kinh Phật vào đời mông lung.
Thầy ơi!
Với các bậc kỳ tài, Thầy trọng thị, khiêm cung
Cùng những kẻ hậu lai, Thầy từ ái, nâng đỡ
Chưa thấy Thầy chê bai ai dù chuyện hay chuyện dở
Chẳng thấy Thầy khuất phục ai dù bạo thế cường quyền
Pañca- sīla Người rất mực trinh tuyền
Pātimokkha Thầy tinh chuyên trì niệm.
Than ôi! Lô hỏa thuần thanh chừ tắt lịm
Hỡi ôi! Chiên đàn hải ngạn chừ thanh lương
Huyết thống tâm linh tìm đâu chỗ tựa nương
Sự nghiệp thánh điển còn ai người chèo lái
Thất chúng về vọng bái
Người thanh thản ra đi
Trên linh đài Người mỉm mật huyền vi
Dưới kim quan chúng thầm thì huyết lệ
Xao xác tiếng gà bên trời Tây kể lể
Bơ vơ điệu thở giữa hồn Việt ngậm ngùi
Kính dâng vài chữ bồi hồi
Trường Sơn viễn mộng xa rồi Thầy ơi!
Thùy Ngữ Thất, Mạnh Đông năm Quý Mão.

Đệ tử Thích Nguyên Hiền kính lễ.

(1) Hai câu này lấy ý từ bài thơ TA BIẾT trong Giấc Mơ Trường Sơn.
(2) Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mỵ Ngữ là tên hai tập thơ chữ Việt và chữ Hán của Tuệ Sỹ.
(3) Độc đối thanh tùng và Hồng lô thụy bãi là những ý trong các bài thơ của Ngục Trung Mỵ Ngữ.

Tuệ Sỹ – Thượng sĩ, Thầy ơi!
Thích Thanh Thắng
 
Tuệ Sỹ – Thượng sĩ, Thầy ơi!
Non cao là chí, biển sâu là lòng,
Cha mẹ sinh một nơi, Thầy tổ dưỡng một chốn, nhưng non sông muôn thuở nơi nào chẳng bóng dáng quê hương.
Vinh khí tạo nên tinh hoa cao sáng,
Vệ khí sinh ra phẩm chất hùng cường.
Ơn sâu Tam bảo ký thác, nghiệp dày dân tộc vấn vương.
Quê hương giữa lúc hai miền hỗn độn chiến tranh, lòng người ly tán.
Phật pháp trong khi đôi ngả đảo điên loạn lạc, tâm thế hoang mang.
Nước đọng bùn nhơ, đạn bay lửa hận, kéo dài bao thập kỷ thương đau.
Hỏi rằng:
Cả một thế kỷ trầm luân, mất mát, đứt gãy vì đâu?
Chuyện vương bá, cơ đồ Tư, Cộng say men, kéo chúng sinh vào cảnh nồi da xáo thịt.
Cảnh trước mắt nghẹn lòng, sự sau lưng xót dạ, cội Bồ đề nghìn năm mọt đục héo khô.
Bóng cà sa xuất hiện mong manh, chịu bao phen đọa đày xỉ nhục.
Nhưng Bậc Thượng sĩ vốn không ràng buộc bởi xuất thân, nên việc xuất xử hành tàng tuỳ cơ duyên ứng độ.
Sinh tử là lẽ thường nhiên, nhưng thời thế luôn tạo nên Bi – Trí – Dũng.
Nào phải phường hèn nhát giá áo túi cơm, Bắc – Trung – Nam tông chỉ mở mang, chí dấn thân Trúc Lâm tổ truyền người người nối nghiệp.
Không thể kể hết những bậc tài danh, mang chí nguyện rửa thẹn cho hơn hai nghìn năm Phật Việt.
Kiên trì với thuần phong Bất hại Từ bi, ngọn cờ nghĩa phất lên, các giới đồng tâm quy tụ, 1963 pháp nạn giải trừ.
Việc lớn của muôn nhà là chấm dứt chiến tranh, khôi phục lại phong hóa, tự do, dân chủ.
Nhưng than ôi,
Khi đất nước nối liền một dải, nạn kiêu binh vô sản nổi lên, đặt cơ chế bài kiến bài phong, khiến văn hoá lâm cảnh suy vi, tôn giáo tâm linh không còn cảnh chiến tranh mà bại trận.
Nói chi Bát Nhã, Lăng Già, kể gì Bảo Tích, Hoa Nghiêm, sư sãi chùa chiền mê tín dị đoan chìm trong bóng tối.
Cũng phải kể những bậc tâm cơ ứng thời thuận thế, nhẫn nhịn cho qua pháp nạn vô hình.
Thượng sĩ rõ biết mà!
Nhưng ai hoà quang đồng trần, tuỳ tục mặc ai, sa môn bất bái quân vương, con đường khác chí cao độc lập.
Chính trị đầy ắp độc tâm, mà thể diện Phật giáo chẳng còn, nào khác gì bầy nai ngơ ngẩn.
Mặc kia nệ tướng, mặc đây buộc tâm, thân mảnh khảnh tự thân trải nghiệm.
Đôi mắt sáng nhìn thấu trần hoàn, không cần biết sinh về đâu tử về đâu, thước đất, tấc trời, gió mát trăng thanh tự tình bầu bạn.
Tứ thơ dào dạt, bạn hiền muôn phương tìm đến.
Nguồn tuệ mênh mang, trí thức khắp chốn quy về.
Xem đại ẩn tiểu ẩn như thói thường, lấy chuyện nhìn vách ngục tù ca câu thống khoái.
Thử hỏi:
Khí giới Tam huyền, Nhất thể trượng phu, chí Địa Tạng đạo sư, thân ấy, tâm ấy ngục tù thế gian nào giam giữ được?
Vận nước nổi trôi, Phật giáo hai đường lẫn trong lẫn đục.
Vậy mà Thầy ở nơi cuối dòng nước tĩnh, đặt mình ra sau, bỏ mình ra ngoài, mặc những chuyện nhân danh Chánh đạo.
Than ôi,
Đỉnh Tu Di tuy cao, đôi mắt khép lại cũng rời xa ngã nhân, bỉ thử.
Sinh tử một đường, đến đi pháp thân không giới hạn, đàn không dây tấu khúc đạo thiều nghênh đón người nơi cung trời hội cũ.
Thầy ơi!
Nghìn trùng tiễn bước Thầy về,
Quê hương nức nở trăm bề trăng ngân!
Hàng hậu học chúng con thẹn lòng tỏ bái!




No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...