MỘT BUỔI SÁNG ĐỌC THƠ TUỆ SỸ
NGUYÊN TÁNH - PHẠM CÔNG THIỆN
Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn
độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Tuệ Sỹ
Hình như Tuệ Sỹ làm thơ rất
nhiều; Nghe nói lúc băng rừng vượt núi trong thời gian đấu tranh bí mật để liên
lạc giao kết với mặt trận rừng núi cao nguyên, trên những ngọn đèo trùng điệp
của quê hương, Tuệ Sỹ đã làm rất nhiều thơ; hình như có người đã giữ lại nhiều
tập thơ chưa xuất bản và không chịu phổ biến. Tôi chỉ được đọc đi đọc lại hai
bài thơ của Tuệ Sỹ. Hình như hai bài thơ này đã được làm trước khi cộng sản vào
chiếm miền Nam (và đã được phổ biến nhiều lần trên các báo chí hải ngoại hiện
nay). Thơ của Tuệ Sỹ không phải chỉ có thế, hiển nhiên. Tuy nhiên, chỉ nội hai
bài thơ cũng đủ nói lên thế giới thơ mộng lặng lẽ của Tuệ Sỹ.
Thế giới thơ mộng lặng lẽ
của Tuệ Sỹ không có nhan đề; hai bài thơ đều không có tựa. Một người đã từng
quen biết Tuệ Sỹ nhiều chắc chắn phải ngạc nhiên: Tuệ Sỹ không để lộ ra bất cứ
hình ảnh hay chi tiết gì có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với đời sống cá
nhân thường nhật của mình. Có lẽ đặc tính thứ nhất của thơ Tuệ Sỹ là không có
“cá tính”. Đi ngược lại với thói quen phê bình thơ văn của phần đông (ai cũng
muốn đi tìm “cá tính” của mỗi thi sĩ), tôi nghĩ rằng cái việc thể hiện cái
“không có cá tính” trong thơ là điều khó khăn nhất cho một người làm thơ. Cá
tính được cụ thể hóa qua những hình ảnh chi tiết của đời sống cá nhân thường
nhật; ngay đến những bài thơ khách quan lạnh lùng của thi hào Hy Lạp hiện đại
Cavafy cũng mở rộng rõ ràng tiểu sử đời sống cá nhân thường trực hàng ngày của
chính đương sự; ngay cả những bài thơ tuyệt tác của thi hào thế kỷ XVI-XVII của
Anh John Donne, gọi là nhà thơ “siêu hình” nhưng cũng để lộ những nét sâu đậm
của đời sống cá nhân thường nhật. Trái lại với Tuệ Sỹ, đời sống cá nhân thường
nhật đã vắng mặt; còn cá tính đã được bôi sạch hay đã được ẩn giấu nhẹ nhàng
đâu đó. Về hai bài thơ không nhan đề, tôi xin gọi bài A và bài B để tiện điểm
danh; hai bài thì đều không có chấm phết; trong bài A chỉ có dấu chấm hỏi bất
ngờ duy nhất:
Chẳng một lần lầm lỡ không
ư?
Câu hỏi mà cũng chẳng phải
câu hỏi: câu hỏi trên chỉ để nhấn mạnh một cách tương phản một cái gì dứt khoát
nhất nằm ở câu thơ thứ năm:
Một lần định như sao ngàn
đã định
Chúng ta hãy để ý hai chữ
“một lần” trong câu trên và trong câu hỏi: mấy chữ “một lần” mang tất cả sức
nặng gợi nghĩa của chữ Đức “Einmal” (một lần) trong thơ của Rainer Maria Rilke.
Tuệ Sỹ đã sử dụng bốn lần mấy chữ “một lần” trong bài thơ A (trong câu 5, câu
6, câu 11 và câu 12) và mỗi lần dùng “một lần” trong câu đầu thì câu kế tiếp
cũng vang lên “một lần” nữa. Xin đọc một lần nữa:
Một lần định như sao ngàn
đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
(câu 5 và câu 6)
Một lần ngại trước thông
già cung kỉnh
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
(câu 11 và câu 12)
Chúng ta cũng cần để ý
những chữ “định”, “nông nổi” “ngại”, “lầm lỡ” đi theo sau mấy chữ “một lần”.
Một lần định, một lần nông nổi, một lần ngại, một lần lầm lỡ. Như thế có nghĩa
là gì? Không có gì than tiếc cả, ngược lại. “Định” chỉ có ý nghĩa là “định” mỗi
khi “định” được thực hiện bi tráng giữa những nông nổi, những ngại ngùng, những
lầm lỡ vô định. Đây chẳng phải là cái ngờ vực bất hủ của Descartes (đã được an
nhiên xác định trước từ dự tưởng về nền tảng bất di dịch tuyệt đối của chân lý
như là “xác thực tính”, tức là “Certitudo” trong ý nghĩa siêu hình của tuyệt
điểm triết lý Descartes, nghĩa là “Fundamentum Absolutum Inconcussum Veritatis”
(theo nghĩa vừa dịch trước khi dẫn). Cũng chẳng lưỡng lự theo điệu đã được nuôi
dưỡng trong tư tưởng Long Thọ thì không thể rơi vào Chủ quan tính hay Khách
quan tính như thế (mà Cá tính chỉ là hậu quả tất yếu của Siêu Hình Học Tây
Phương cận đại và hiện đại về Chủ Thể Tính; và Khách quan tính cũng chỉ là hậu
quả đương nhiên của Chủ Thể Tính tương đối và tuyệt đối của Kant và Descartes
và tuyệt đối nhất là của Hegel). Xin trở lại bài thơ A, và xin đọc lại hai câu
mở đầu:
Này đêm rộng như khe rừng
cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Và xin đọc lại hai câu cuối
của bài thơ:
Ngày mai nhé ta chờ mi một
chuyến
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Tất nhiên tôi phải ngạc
nhiên và ngừng lại suy nghĩ: tôi không bao giờ thấy Tuệ Sỹ có tóc (chỉ sau ngày
cộng sản nhốt tù thì tóc mới mọc lên). Thầy tu không có tóc lại làm thơ với
hình ảnh trữ tình lặp đi lặp lại hai lần trong bài A (“vén lại tóc xa xưa”) và một lần trong bài
B (“Treo
gót hài trên mái tóc vào thu”). Tóc ở đây là tóc của ai? Của một thiếu nữ? Tầm
thường quá và không hẳn là thế. Dù là thầy tu đi nữa thì đôi lúc cũng mơ mộng
như mọi người cho vui nhẹ trong không khí khổ hạnh? Tóc của đàn ông? Cũng không
hẳn thế? Thôi thì cứ gọi tóc của thơ, đủ rồi. Có thể tạm chẻ sợi tóc ra làm tư
và gọi là “tóc của tục đế, thế đế” theo tinh thần của Long Thọ “Chân đế hay đệ
nhất nghĩa đế thì phải cần đến Tục đế hay Thế đế, vì “Niết Bàn không khác mảy
may nào cả với Luân Hồi” (tuyệt đỉnh cao siêu nhất của Phật Giáo). Bỏ triết lý
và tôn giáo qua một bên, và xin trở lại thế giới của Tuệ Sỹ và xin đọc lại từ
đầu với 6 câu mở đầu bài:
Này đêm rộng như khe rừng
cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Miền đất đỏ trăng đã gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ trong giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Cách hạ vần cuối rất rộng
rãi (…ưa,…ồ,…ơ, …iễn, …ịnh) chữ “Này” bắt đầu câu thơ để gọi. Thơ là gọi: gọi
tên, hay đúng hơn: gọi sự có mặt, gọi sự hiện diện. Thơ thường khi cũng gọi sự
vắng mặt, làm cho sự vắng mặt được có mặt. Đêm là sự vắng mặt của ban ngày.
Này đêm rộng như khe rừng
cửa biển
“Đêm rộng” ở đây không có
nghĩa là đêm lớn rộng, mà có nghĩa là mở rộng ra như khe mở rộng ra rừng và cửa
mở rộng ra biển; đêm rộng là đêm mở rộng ra ngày mai như câu thơ 13 trước câu
thơ cuối:
Và câu cuối:
Ngày mai nhé ta chờ mi một
chuyến
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Câu cuối 14 lặp lại câu thứ
hai như điệp khúc quyết định: “Hai bàn tay” chớ không phải một bàn tay. Thiếu
nữ vén tóc thường khi chỉ vén có một tay chỉ có tráng sĩ tóc dài theo điệu “thử
địa biệt Yên Đan” mới vén tóc bằng cả hai tay nhất quyết: “nhất khứ bất phục
hoàn”. Mấy chữ “xa xưa” cũng có thể hiểu ngược lại thời gian thông thường là
“xa xưa của tương lai”, vì chính mấy chữ “ngày mai nhé” đã được mấy chữ “xa
xưa” mở rộng chân trời như “cửa biển”, hay ẩn giấu chân trời và mở rộng thời
gian như “khe rừng” hay “sao ngàn”: mỗi “một lần”, mỗi một bước chân của Thời
gian là cô đọng lại Thời gian tinh túy “vĩnh viễn” (không phải “vĩnh viễn” theo
điệu “cái hiện tại đứng ở lại” của thần học thánh Augustin “Nunc Stans” mà theo
nghĩa “hiện tại thu phối vĩnh cửu” của thuật ngữ Heidegger:
Augenblick-Augenblitz: “tia chớp xé rách thời gian của Héraclite và khi mở Vĩnh
cửu, cái Một mở rộng và thu phối cái Tất cả (Hen Panta) theo nhịp Hoa Nghiêm
Kinh ‘một lần’ bao dung tất cả lần”). Quan niệm “Nunc Stans” xuất phát từ tư
tưởng Hữu Thể, còn “Vĩnh Viễn” của Tuệ Sỹ nằm gọn trong sự vắng mặt của Không
Tính. Tuy vậy, Tuệ Sỹ không bao giờ sử dụng danh từ Phật học trong thơ (khác
hẳn với những thi sĩ thích làm thơ “thiền”, dù Tuệ Sỹ đã từng làm việc chơi
“tay trái” là dịch giỡn bộ Zen của Suzuki. Thực ra ít có người tu chứng cùng
hiểu Thiền như Tuệ Sỹ). Mấy chữ “không như” và “không hư” trong câu thơ 8 và 10
chẳng có liên hệ mảy may gì với chữ “không” trong “Không tính” của Bát Nhã và
Thiền. Sự vắng mặt nói lên sự có mặt nào đó.
Bây giờ đọc lại trọn bài
thơ A (gồm 14 câu, mỗi câu 8 chữ), chúng ta tự hỏi nhà thơ muốn nói gì? Đọc thơ
mà thấy rằng tác giả muốn nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa. Nhưng có lẽ
câu thứ 5 (“một
lần định như sao ngàn đã định”) và hai câu cuối: (“ngày mai nhé ta chờ mi
một chuyến/ hai bàn tay vén lại tóc xa xưa”) cũng gợi chủ ý cho ta rất
nhiều? Như trong bài B: (“Một buổi sáng nghe chim trời đổi giọng/ người thấy ta xô dạt bóng
thiên thần”) đã gợi
chủ ý cho tất cả bài B. Có lẽ đặc tính thứ hai trong thơ của Tuệ Sỹ là trừu
tượng hóa bản thân cụ thể, trừu tượng hóa cá tính. Tôi dùng mấy chữ trừu tượng
ở đây trong ý nghĩa đẹp nhất và thơ mộng nhất, như nhà thơ vĩ đại Paul Valéry
đã “trừu tượng hóa” nhân vật tản văn thường mang tên là “Monsieur Teste”. Tuệ
Sỹ không hề đọc Valéry mà thường đọc đi đọc lại một nhà thơ trái ngược hẳn với
Valéry là Heine. Điệu thơ Đường Tống cũng đã được dấu kín lặng lẽ trong thơ Tuệ
Sỹ, mặc dù Tuệ Sỹ đã từng thuộc nằm lòng cả thế giới Tống Đường. Nói rằng thơ
của Tuệ Sỹ hay hoặc không hay thì lố bịch. Chỉ có thể nói rằng thơ của Tuệ Sỹ
đáng được chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần và suy nghĩ lan man hoặc cảm nhận
tùy hứng. Ít nhất có một người làm thơ đáng cho ta đọc giữa “sống chết với điêu tàn vờ
vĩnh” để cho
chúng ta còn có được “một buổi sáng nghe chim trời đổi giọng.” Đặc tính thứ ba và cuối
cùng của thơ Tuệ Sỹ chính là tiếng thơ đổi giọng của một loài chim đi từ cõi xa
xưa của vô biên tế kiếp trong lòng sâu thẳm của Tính Mệnh Quê Hương.
NGUYÊN TÁNH - PHẠM CÔNG THIỆN
California,
ngày 18 tháng 11, 1988
BÙI GIÁNG
VIẾT VỀ THƠ TUỆ SỸ
Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề
nghị với ông nên nhờ Ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên
rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện
tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu
bồng tâm sự tân toan lệ
Trí
Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có
vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ "Không
đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo
màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút
vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp
đèn khuya mà kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê
cóng cả cõi dạ.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh
đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười
với nắng một ngày sao chóng thế
Nay
mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm
tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi
đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ
ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối
nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía đề nghị: Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm
thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp: - Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế
chăng.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung
trời Hội cũ
Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng
dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? - Cung trời hội cũ.
Một hội đạp thanh? Một hội nao nức? - "Giờ nao nức của một
thời trẻ dại?".
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ...
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm
niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ
xao xuyến, một tuổi vàng long lanh...Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ
không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều
"phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng mình
"không thiết chi chuyện nói".
Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác
thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như
chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi
người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi
vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do
đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice
interne).
Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta
tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu
nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn
thô bạo.
Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn
Du: "Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm
trọng dụng (...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?".
Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói
thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như
nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!
Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm
hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang
về chân trời hướng khác.
Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung
trời hội cũ
Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì
quá long lanh?
Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng
nhiệm cho thơ.
Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân
ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào
long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất
tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?
"Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang"
Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái
núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?
Tôi nói không sai sự thật
mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào
Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem
quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.
Đôi mắt ướt tuổi vàng Cung
trời hội cũ
Áo màu xanh Không xanh mãi Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya mà kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?
Mình là thân Bồ-tát, quanh
năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du
thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?
Phải có nhìn thấy khuôn mặt
khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời
nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du
bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
Từ núi lạnh đến biển im
muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Mối tình rộng thả suốt biển
non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ
vơ không gột rửa.
Từ núi lạnh đến biển im
muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra
"cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm
thanh nhất trong cung bậc Nietzche.
Thi nhân đã mấy phen ngồi
ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn
màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
Đỉnh đá và hạt muối là hai
chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây
rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất
tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:
Cười với nắng một ngày sao
chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng "buồn
chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một
khúc tâm thanh đoạn trường:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến
đổi:
Đếm tóc bạc Tuổi đời Chưa Đủ
Bụi đường dài Gót Mỏi Đi Quanh
Tiết điệu rạc rời như gót
mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm
chấm dứt? Một tuổi "đá" sớm từ giã mọi yêu thương?
Giờ ngó lại bốn vách tường
ủ rũ
Suối nguồn xa Ngược nước Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất
tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ
ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã
trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.
Bùi Giáng (1969)
No comments:
Post a Comment