Monday, November 27, 2023

Khải Tĩnh 1

Lối vào am mây, phía trên cổng sài có treo cặp liễn đối chân mộc, xương kính đoan nghiêm, khí bút thượng thừa “long phi, phượng vũ” như nét kiếm sắc lạnh xẹt hư không

“Ngõ trúc sương len hồn Trí giả
Cửa không mây níu áo nhân hiền…”

Giữa mộng trần lãng đãng mười phương khách “vô trụ xứ”, với gã phàm tăng kiêu bạc bất kham “ngạo đời cợt thế” chỉ “bứt một sợi lông chân đổi hết cả thiên hạ cũng chẳng thèm” nhưng lại khuất phục trước lòng từ bi, trí tuệ, thân giáo Thầy. Đỉnh chiều lất phất mưa bay, một gánh phiêu bồng tự lự tháng năm khẽ thả xuống đoạn tục kiều nghìn trượng “ trăm năm cuộc mộng qua cầu đánh rơi…” Duyên Thầy trò là thế ấy, tình sương tuyết nghĩa tháng ngày, không phô trương chẳng màu mè, đến vì tâm lành cầu đạo, đi với chí nguyện mười phương.

Một thuở hoa vàng vương mắt biếc, bây chừ mây trắng ngự non không, phước duyên thay! con được làm đệ tử Thầy, được kề cận bên Thầy bao mùa sương thu trăng tỏ, đấy là niềm phúc hạnh vô biên cho kẻ say tình cõi mộng lạc bước đường mơ như con. Vẫn nhớ như in cái ngày xưa cũ ấy, có chàng tu sĩ trẻ vóc người gầy guộc hanh hao, đôi mắt hoen buồn sâu thẳm như chứa đựng cả nỗi bi ai trần thế, lại quyết tâm lập chí bắt chước hạnh tiền nhân, men theo lối mòn dốc đất lên đỉnh non không cầu pháp tầm Sư. Chắc nhờ tâm thành chí cả chiêu cảm nhân xưa, đưa duyên đẩy lối, vào một buổi chiều thu nắng ấm, phúc lành thay được gặp Thầy bên đồi sương mây tía. Ngước nhìn dung nghi đê đầu kính ngưỡng, ôi! châu thân rúng động xúc cảm vô vàn, kể từ ngày đó, nguyện dừng gót vân du theo Thầy tu học. Ở gần Thầy ngần ấy năm, ngày càng thấy rõ “cái tâm, cái hạnh, cái tuệ” nơi Thầy vời vợi như núi lớn, sâu rộng hệt biển khơi, ngời sáng tựa trăng ngàn. Thầy bậc long tượng oai mãnh trầm hùng, thung dung khẽ bước qua miền sinh tử. Thầy là bậc thượng thừa đạt ngộ liễu tình, lý sự viên dung an nhiên vô ngại. Thầy bậc minh tuệ đàm kinh thuyết giáo, khơi nguồn dẫn mạch trăm bến ngàn sông. Thầy bậc đại dụng khế cơ, diệu bút sinh hoa thiên cổ hùng văn chuyển mê khai ngộ. Thầy bậc đại bi vô lượng, tầm long trích huyệt kiến tạo thiền lâm, độ chúng tiếp tăng uy đức cao ngời!

Am mây Bích Hải Huyền Sơn


Giờ đây, cô thân vạn lý biệt trùng sơn, nơi hoa thành viễn mộng chợt thèm lắm chén trà núi đêm trăng. Nhớ về chốn cũ năm xưa giữa miền sương mơ gió khẽ, bên lều hoa giậu khói ẩn mình trong triền mây lũng trúc, bốn mùa vô ưu góc núi tịnh nhàn điềm nhiên lặng lẽ, trăm sự ngoài kia mưa bời cỏ rối duyên nợ nhạt lòng, muôn việc phàm trần nắng lay đốm vỡ chuyện đời hoá không. Dẫu biệt nguồn xa cội vẫn khắc khoải nhớ nghĩ về ân Thầy nghĩa đệ đạo vàng tình thâm:

“Tình pháp lữ, nhắn dùm vẫn nhớ
Nghĩa đệ huynh, nói hộ nào quên
Niềm thương sâu nặng không tên
Trà khuya núi vắng trăng lên chạnh buồn”

Phương trời xa lữ thứ, ánh trăng khuya soi bến nước trần khơi như thấu thị niềm đan tâm kiếp “nhạn hồng in mây” lênh đênh tầng không cô liêu lẻ bóng. Con giờ đất khách ly hương mượn cảnh ngụ tình, gom sương mài mực, róc tre làm bút dệt lụa đề thơ, tỏ lòng kính cảm tri ân muôn trùng, đê đầu nhờ gió, gửi hộ cánh thơ viễn xứ về miền “Đất Tổ Cội Tùng” mảnh tình con bé mọn.
Am mây Bích Hải Huyền Sơn

Ôi! Thời gian vô sở trụ, năm tháng lạnh lùng trôi, thoảng vèo tóc bạc cơ hồ sương pha, ai có biết mộng trường canh thâu vó lạnh, sẽ thầm thương lối cũ bóng sương cài. Nhớ lại ngày ấy bên am trúc hồ sương khí trời se thắt gió cuộn lá bay, con quỳ xuống đảnh lễ Thầy, nói lời giã biệt Huyền Không, hành trang con xuống núi vỏn vẹn lòng nhiệt huyết vô bờ bến. Thầy vỗ nhẹ vào vai con, nở một nụ cười an tịnh trên môi, rồi khẽ nói:
“nơi nào con đến hãy tận lực phụng hiến, gieo rắc tình thương, ươm mầm thiện pháp, khơi dậy giác tính ẩn tàng nơi mỗi người con nhé, có khó khăn chẳng nản lòng, có trắc trở không nhục chí. Hãy kham nhẫn: dẫm qua sỏi đá, mỉm cười chông gai, Thầy tin con sẽ làm được”
Rồi con chỉ biết nắm chặt tay Thầy mà chẳng thốt nên lời, chỉ vâng dạ, nghẹn ngào thưa: Huế mình trời trở lạnh, xin Thầy giữ gìn sức khoẻ, kính chào Thầy con đi ạ”. Bên ngoài cổng sài lối mòn xuống núi, có ánh trăng mơ khẽ vương lên tà áo đạo như lời tiễn biệt một người xa

“Vai trần gánh đạo non thiền
Chí tăng vọng cả trăm miền bể dâu…”

P/s: Rừng khuya trăng lạnh, nén trầm tàn hương, chén trà nhạt vị, bên ô cửa thiền thất, con lặng nhớ Thầy.

Trà khuya viễn xứ, mượn trăng soi chữ, lấy chữ soi tâm:

“Trăm năm lòng hỏi lấy lòng
Sự đời muôn việc một dòng nước xuôi”

Thú thật đời tu ngẫm thẹn thấu lòng: “rốt cuộc trần gian dạy ta được điều gì ? Hay chỉ là trưởng thành để giả dối, khôn ngoan để được lòng, cho đi để nhận lại, nhân danh để đậy che, sâu tận chỉ là vỏ bọc phủ một lớp hư ngụy tục phường thiển thô.” Có vẻ như đâu đấy một lối mòn sinh tử giữa đại lộ phù hoa, hay một mảnh tơ trần bện chặt bủa vây, níu, đày cõi trầm mê. Trót xuôi dòng cuộc thế chỉ là kẻ phàm tăng tục lữ thất bại trước chính mình, còn ngược nẻo ly trần, giả trá như chân ấy, lại ngại trúc trắc cô liêu giữa đường xa lẻ bóng. Thế nên, cũng nửa đời hơn tóc rối chớm sương, việc gì cũng nửa vời cho có lệ, tuệ nghiệp thì èo uột trật trầy, trăm sự thì hậu đậu vụng về, dăm ba câu thơ danh hảo chẳng đổi nổi chén trà đất khách, bấy lời hoa ngữ nhạt nhẽo nào tìm thấy chân tình nguồn cội, cậy chút tài mọn tận hiến “ươm thiền trẩy đạo” rồi ngổ ngáo cuồng ngâm dông dài cơn nước, lờ trôi lời hạnh nguyện giữa ba đào sóng gió triền miên. Phương trời xa dâu bể, có cánh nhạn chiều lạc lõng sầu liêu, cõng niềm đại nguyện vô biên, nhất phương nhất niệm vượt trùng mê bến mộng, chỉ mong muôn kiếp “trọn đạo, vẹn tình”
Am Mây Bích Hải Huyền Sơn

Đời Người Chỉ Cần Có Thế!

Ước mơ dung dị về chốn bình yên. Nơi sơn cùng thủy tận dựng lều tranh mộc nhiên dị giản, cách biệt nhân gian. Ngày ngày hai bữa cơm rau đạm bạc tịnh nhàn, sống an bần tri túc, lặng lẽ góc núi, chẳng mảy may đến hư danh mộng đốm thế trần. Phía trước lều tranh trồng vài khóm hoa, bụi trúc, giò lan; đằng sau ụ rơm là giàn thiên lý lẫn bầu mướp, bồi vài luống đất trồng ngô, khoai, sắn dân giã. Lòng trạm nhiên kiên trú, muôn sự yên lắng không vướng bận thị phi nhân ngã thế tình. Bốn mùa bạn cùng gió núi sương rừng, trăng nước trời mây, mặc tháng ngày êm ả nhẹ trôi qua miền tịch lặng. Trọn vẹn giản đơn, sáng chăm vườn ươm cây trỉa đậu, trưa cất cuốc nghỉ ngơi độ ngọ, chiều xế đọc ngẫm Kinh lòng vô tự, điềm nhiên nâng chén trà nhàn ngắm mưa bay lá đổ bên thềm quán lẽ diệt sinh; khuya ngồi bên Phật tượng tĩnh tọa công phu, sám tạ, hướng hồi đến người thương, đời người chỉ cần có thế.

Am mây Bích Hải Huyền Sơn

Ước mơ dung dị về chốn bình yên. Nơi sơn cùng thủy tận dựng lều tranh mộc nhiên dị giản, cách biệt nhân gian. Ngày ngày hai bữa cơm rau đạm bạc tịnh nhàn, sống an bần tri túc, lặng lẽ góc núi, chẳng mảy may đến hư danh mộng đốm thế trần. Phía trước lều tranh trồng vài khóm hoa, bụi trúc, giò lan; đằng sau ụ rơm là giàn thiên lý lẫn bầu mướp, bồi vài luống đất trồng ngô, khoai, sắn dân giã. Lòng trạm nhiên kiên trú, muôn sự yên lắng không vướng bận thị phi nhân ngã thế tình. Bốn mùa bạn cùng gió núi sương rừng, trăng nước trời mây, mặc tháng ngày êm ả nhẹ trôi qua miền tịch lặng. Trọn vẹn giản đơn, sáng chăm vườn ươm cây trỉa đậu, trưa cất cuốc nghỉ ngơi độ ngọ, chiều xế đọc ngẫm Kinh lòng vô tự, điềm nhiên nâng chén trà nhàn ngắm mưa bay lá đổ bên thềm quán lẽ diệt sinh; khuya ngồi bên Phật tượng tĩnh tọa công phu, sám tạ, hướng hồi đến người thương, đời người chỉ cần có thế.

Am mây Bích Hải Huyền Sơn


Lối vào am mây, phía trên cổng sài có treo cặp liễn đối chân mộc, xương kính đoan nghiêm, khí bút thượng thừa “long phi, phượng vũ” như nét kiếm sắc lạnh xẹt hư không

“Ngõ trúc sương len hồn Trí giả
Cửa không mây níu áo nhân hiền…”

Giữa mộng trần lãng đãng mười phương khách “vô trụ xứ”, với gã phàm tăng kiêu bạc bất kham “ngạo đời cợt thế” chỉ “bứt một sợi lông chân đổi hết cả thiên hạ cũng chẳng thèm” nhưng lại khuất phục trước lòng từ bi, trí tuệ, thân giáo Thầy. Đỉnh chiều lất phất mưa bay, một gánh phiêu bồng tự lự tháng năm khẽ thả xuống đoạn tục kiều nghìn trượng “ trăm năm cuộc mộng qua cầu đánh rơi…” Duyên Thầy trò là thế ấy, tình sương tuyết nghĩa tháng ngày, không phô trương chẳng màu mè, đến vì tâm lành cầu đạo, đi với chí nguyện mười phương.

Lá Thư Tiền Kiếp
Ngày chờ, tháng đợi năm tương ngộ…
Gửi Cố Nhân
Trong vô lượng kiếp ta với người đã từng là tri kỷ, dưới ánh trăng trong vườn đào cách hoàng thành hoa lệ ba dặm, ngồi bên nhau ta không ngần ngại bộc bạch hết tâm tư sâu kín nhất từ đáy con tim mình.
Trong vộ lương kiếp ta với người đã từng là tri âm, trong cơn gió thu giữa rừng trúc, ngồi bên nhau ta ngẫu hứng tấu khúc Từ Bi Âm, lúc trầm hùng như ngọa tùng cao sơn, lúc nhẹ nhàng như tuyết liên lưu thủy, cầm âm tuyệt sắc u nhã cô liêu tận cùng khiến người phải rơi lệ.
Trong vô lượng kiếp ta với người đã từng là tri ẩm, trong vườn sen mùa hạ, hứng từng giọt sương khuya đọng lại trên lá, pha một bình trà cổ nguyệt hoa tình, ngồi bên nhau vịnh cảnh đối thơ thưởng trà, chẳng màng đến nhân ngã thị phi thế trần.
Trong vô lượng kiếp ta với người đã từng là tri đạo, có lần hữu duyên nghe được lời kinh xưa làm châu thân rúng động, suốt bao ngày tháng ròng rã, ta với người trở trăn tầm lý đạo, đâu là nguyên nhân dẫn đến khổ, đâu là con đường diệt khổ. Ngờ đâu ngữ ngôn sương trắng dặc dày, tri kiến chập trùng tưởng vọng lênh đênh, kiếp người hạn định, vô thường hiện hữu rồi ta và người thất lạc nhau trong vòng sinh tử.
Trong vô lượng kiếp chắc hiếm khi ta cùng người tương ngộ. Có lúc vì đắm chìm trong ngũ dục bất thiện, ta đọa lạc trong vòng ác đạo; có lúc nhờ thiện nghiệp tích lũy, trổ quả phúc lạc nhân thiên, rồi chấp thủ cuồng mê lạc lầm nẻo cũ, cứ như thế mà mãi trôi lăn trong vòng sinh tử.
Trong vô lượng kiếp cứ luân hồi luẩn quẩn, ta ngán ngẫm sinh tử, đời này góc núi am tranh, ẩn mình trong rừng phong cách hoàng thành ba dặm, nếu hữu duyên mong ngày tương ngộ, ta với người cạn chén trà tri tình, ngồi ôn lại lời kinh xưa mà vô lượng kiếp còn bỏ ngỏ.
Tình vạn hữu gửi mười phương mây trắng...
Lãng Vân Am

Ước mơ dung dị về chốn bình yên. Nơi sơn cùng thủy tận dựng lều tranh mộc nhiên dị giản, cách biệt nhân gian. Ngày ngày hai bữa cơm rau đạm bạc tịnh nhàn, sống an bần tri túc, lặng lẽ góc núi, chẳng mảy may đến hư danh mộng đốm thế trần. Phía trước lều tranh trồng vài khóm hoa, bụi trúc, giò lan; đằng sau ụ rơm là giàn thiên lý lẫn bầu mướp, bồi vài luống đất trồng ngô, khoai, sắn dân giã. Lòng trạm nhiên kiên trú, muôn sự yên lắng không vướng bận thị phi nhân ngã thế tình. Bốn mùa bạn cùng gió núi sương rừng, trăng nước trời mây, mặc tháng ngày êm ả nhẹ trôi qua miền tịch lặng. Trọn vẹn giản đơn, sáng chăm vườn ươm cây trỉa đậu, trưa cất cuốc nghỉ ngơi độ ngọ, chiều xế đọc ngẫm Kinh lòng vô tự, điềm nhiên nâng chén trà nhàn ngắm mưa bay lá đổ bên thềm quán lẽ diệt sinh; khuya ngồi bên Phật tượng tĩnh tọa công phu, sám tạ, hướng hồi đến người thương, đời người chỉ cần có thế.


Bên trời vong lữ sương khuya giá lạnh, nghĩ nhớ về Thầy khoé mắt đỏ cay cay, một miền kí ức xưa lại ùa về trong tâm tưởng là khung trời bình yên nơi góc núi am mây. Cứ nghĩ cả đời cạnh Thầy tu tập, chả thiết đi đâu cả, vì nơi nào “không mộng ảo, không bể dâu” vậy mà giờ làm cánh chim trời viễn xứ lao vào chí nguyện mù khơi…

“Đất khách tận cùng niềm quạnh vắng
Quê người sâu thẳm nỗi cô đơn…”

Sinh tử là niềm cô đơn cùng tận, hành trang là nỗi ngao ngán vô biên, cứ nghĩ chí nguyện là xứ mệnh ngờ đâu là đáy vọng trầm luân. Chỉ muốn làm gã sơn tăng ngày ấy, về lại nơi mái nhà xưa, ngắm vầng trăng sơ thuỷ treo đỉnh triền sơn phương…

“ Có gã sơn tăng về núi cũ
Nhìn hoa đáy nước thấy dung nhan…”

Đây mới là cội nguồn thân thế, cố hương thuở nào bị lãng quên thất lạc, thôi thì “ra đi tức thị trở về”, đi để giác ngộ bài học nơi trần thế, đích đến cuối cùng là tìm lại chính mình giữa bao cuộc nhớ thương.

Đời con bạc phúc kém duyên, trăm sự dở dang chí nguyện lỡ làng, nhiều khuya thức trắng tự vấn thẹn lòng lệ tủi ngàn khơi, buồn mình vô nghĩa “tâm nhu trí nhược” cô phụ ân Thầy

“Khúc vô thường hát trong chiều hội ngộ
Đêm hoang vu nghe sinh tử gọi thầm
Ta muốn khóc vì thấy mình vô nghĩa
Bàn tay nào ôm trọn vẹn chúng sanh…”

Một chút hoài niệm về ngày xưa nơi núi vắng am mây, ngồi hong nắng sớm ngắm mưa chiều, nghe Thầy kể chuyện “thi hoa triết mộng kim cổ đông tây” dẫn mạch khơi nguồn vẹn lời nguyên thủy, đàm kinh luận sử trọn nghĩa chánh tông. Tình Thầy lớn lao vô lượng “nhất ẩm trà, vị trần sa” tay nâng một chén trà sớm thấu cảm tận nỗi niềm thế nhân

“Ngày núi thơm hương nhất ẩm trà
Bèn thương nhân thế vị trần sa…”

Ngày con xuống núi, gánh tư lương là tình Thầy theo năm tháng, là lời răn dạy mộc mạc chân phương thuở nào…

“Sa môn đi trên băng mỏng
Hành trang lặng lẽ cô phương…”

Đời tu hành như đi trên lớp băng mỏng, phải thận trọng từng bước chân. Băng vỡ là rơi đoạ. Tài, tình, danh, lợi là bốn viên hổ tướng của Ma vương, chúng thâu tóm thế gian và thao túng thế gian, phải dõng mãnh thoát ra khỏi vòng kiềm toả của chúng. Con còn trẻ, dũng khí có thừa mà đường dài sức ngựa còn lắm gian lao thử thách, ca ngợi tán thán là một trong tám ngọn gió thế gian, phải giữ tâm bất động như thạch đỉnh, dẫu tiếng đời chê dở khen hay cũng không làm chao động đôi mài trí nhân. Lời Thầy dạy con nguyện khắc cốt ghi tâm, y giáo phụng hành, tâm niệm ngàn đời “lưu thuỷ bất tranh tiên”, trong trăm trận đua cho tôi về chót, lòng dặn lòng: vô tác vô tranh…!



No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...