Monday, November 27, 2023

Khải Tĩnh 4

Bỏ phố, về đồng, sông nước hát
Vào rừng, lánh thị, cỏ cây reo
Xa xa đầu núi du nhiên viễn
Bước bước chân mây tỏ bóng hình 

ĐỌC “GIỌT TRẦM VỠ HƯƠNG” CỦA SƯ KHẢI TĨNH
ĐỌC “GIỌT TRẦM VỠ HƯƠNG” CỦA SƯ KHẢI TĨNH

Nhận được tập thơ “Giọt Trầm Vỡ Hương” của một vị Sư trẻ qua lời giới thiệu của một tiểu thư Hà thành, nhờ tôi viết lời tựa. Sau khi đọc qua vài bài, tôi nhắn với chị:

“Đường thi, quan trọng là cái hồn. Hồn thơ phảng phất, thâm u và quý phái, như của vị Sư Khải Tĩnh là của hiếm trong thời buổi này. Nhất là kết cấu của một bài thơ, đề, thực, luận, kết, đối nhau chan chát mà vẫn không lộ công phu dùng chữ, không khiên cưỡng…, thật đáng bậc thầy thơ Đường rồi! Kẻ vô danh tiểu tốt như Thầy NH của chị đâu dám múa bút viết lời tựa. Để Sư ấy tự chọn người đi chị ạ!”

Sau mấy ngày nhắn qua nhắn lại, nhất là sau khi nhận được điện thoại của vị Sư trẻ, tôi đã nhận lời giới thiệu. “Giọt trầm” thì đã mong manh, lại còn “vỡ” nữa thì làm sao mà nắm bắt? Lời giới thiệu thì không phải bình thơ, phân tích thơ, nên thực ra cũng dễ. Nhưng nếu quảng cáo một món hàng mà không biết chất lượng của món hàng ấy, đôi khi phản tác dụng. Đó là nói những sản phẩm bình thường, huống là đối với thơ. Vì vậy, tôi phải ngồi đọc chậm rãi từng câu, hơn một trăm bài Đường luật thất ngôn bát cú, cả những bài lục bát, song thất lục bát cổ phong, tôi nghĩ mình đã nhận làm một việc quá sức của mình, nhất là khi biết Sư Khải Tĩnh là đệ tử của một thi bá đã từng “Chèo Vỡ Sông Trăng”.

Tôi vốn rất thích Đường thi. Đường thi chứ không phải thơ Đường luật thất ngôn bát cú như trong trường quy của các ông Nghè, ông Cống trong văn học Việt Nam. Vì vậy, sau những Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn thời tiền chiến, tôi nghĩ thơ Đường luật không còn là món ăn tinh thần của các thế hệ bây giờ. Tuy vẫn còn những văn đàn thù tạc họa vận Đường thi, nhưng người ta đã nói đến thơ hiện đại, hậu hiện đại, thì những kẻ làm “thơ có chân” như tập “Giọt Trầm Vỡ Hương” của Sư Khải Tĩnh quả là của hiếm.

Thử bước vào khu rừng đầy kỳ hoa dị thảo của “Giọt Trầm Vỡ Hương”. Ôi! Nhiều hoa thơm trái lạ quá! Nhưng bảo tôi đưa tôi ngắt lấy một nhành hoa mình thích, một quả ngọt mình ưa, thì tôi ngỡ ngàng đi mãi đến cuối rừng. Đôi lúc muốn dừng lại ngửi một chút hương, ngắm một sắc hoa, nhưng chân lại muốn bước đi tiếp. Khi quay trở lại tìm kiếm, tôi đã bước luôn ra khỏi rừng. Đây có thể là thất bại của tôi, hay của chính khu rừng lộng lẫy, kiêu sa kia, tôi không biết nữa!

Tôi đi tìm cái gì? Tôi đi tìm dù chỉ một câu, với đầy đủ sự hồn nhiên ngẫu nhĩ, “chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ”, như của Quách Tấn:

“Sầu mong theo lệ, khôn rơi lệ
Nhớ gửi vào thơ, nghĩ tội thơ”.

Thoạt đầu, những hình ảnh ấn tượng vẽ nên một không gian thật Thiền vị của nét văn hóa Huyền Không Sơn Thượng, nhưng chẳng phải vị Sư trẻ chỉ muốn tiêu ngày đoạn tháng với cái thú nhàn nhã rất ăn khách đó. Chàng tu sĩ trẻ khao khát đi tìm chính mình trên ngõ hồn ngát lạnh cùng trái tim nóng bỏng với “Chí Ngàn Dâu”:

“Xé màn tục lụy, vùi non thẳm
Cắt sợi ái tình, thả vực sâu”.

Hay:

“Nghịch cảnh rèn tâm, tâm đại sĩ
Chướng duyên mài chí, chí sơn tăng”.

Nhưng người thơ cũng như hành giả, đâu thể chỉ cuộn mình trong giấc cô miên. Nỗi khao khát đập vỡ thành sầu đã dẫn người thơ lên đường đầy những “Nỗi Quan San”, những “Sầu Ly Biệt”, những “Phủi rơi trăm sự trần hoa đốm/ Gửi áng mây qua cuộc mộng trường” (Trần Hoa Đốm). Rồi “Quẳng lại sau lưng bao nỗi nhớ/ Xua đi trước mắt bấy niềm thương” (Tĩnh Tuệ Hương).

Tôi cũng đã từng đi qua những năm tháng như thế, nên tôi đã gặp lại chính mình, và bật khóc khi đọc mấy vần thơ này của Khải Tĩnh:

“Đất lạnh ngàn năm chờ nắng ấm
Cỏ sầu muôn thuở đợi mưa vơi
Chén trà liêu vắng buồn thôi ngẫm
Kinh kệ an nhiên, lặng tiếng đời”.
(Giọt Tình Rơi)

Cứ thế, tôi đã đọc hết tập thơ. Ai bảo thơ là Đạo? Tôi nghĩ cứ khi nào Khải Tĩnh nói về Đạo là dường như thất bại. Ai bảo thơ là trần gian tục lụy? Tôi chẳng thấy Khải Tĩnh tục lụy chút nào, thậm chí là hoàn toàn thoát tục, với những vần thơ sóng sánh chữ nghĩa kinh thư. Ngôn ngữ đẹp, hình tượng trau chuốt, ý tứ đối nhau điêu luyện, vị Sư trẻ đa tình, “đa tình thị Phật tâm”, cái lớn của Khải Tĩnh là đã viết thơ tình bằng Đường luật, một việc làm can đảm, liều lĩnh, nhưng đã khá thành công. Đôi chỗ dùng chữ Hán còn vụng, khó hiểu, như “Hạt Miên Du”, “Vọng Hẩu Âm”, nhưng càng về sau, có nhiều câu thơ rực sáng như một cơn hoát nhiên cảm ngộ, đẹp một cách phi thường:

“Tàng kinh mật nghĩa miên trường
Ngữ ngôn lách cách vỡ sương ảo huyền”.

Hay như trong một bài lục bát cuối tập, “Đại Bi Mộc Trầm”, hay đến sững sờ người đọc:

“Tuổi chiều gậy trúc lên non
Gặn lòng tự vấn: mất còn được chi?
Chợt nghe đá cỏ thầm thì…
Khổ đau diệu chất đại bi mộc trầm
Tuế hàn trưởng tuệ cao lâm
Tuyệt hương tụ bởi vết dằm trong tim”.

Chao ôi! Thơ ấy mới thật là thơ, nào phải chỉ là ý tưởng giáo điều lên lớp độc giả. Tôi biết mình không thể làm được như thế, nên đã từ lâu quăng bút, chẳng dám làm nổi một câu thơ. Thiết tưởng Khải Tĩnh chỉ cần chọn đại khoảng ba bốn mươi bài trong “Giọt Trầm Vỡ Hương” để in, đủ để người đọc thấy được cái lớn, cái thành công của vị sư trẻ này rồi.

Người làm thơ, tâm và cảnh giao nhau. Làm sao tâm mất mà cảnh cũng chẳng còn? Đây là chỗ tuyệt trù của thi ca! Trong “Tham Đồ Hiển Quyết” của Viên Chiếu có đoạn đối thoại khá thú vị:

- Hỏi: Tâm pháp song vong tính tức chân. Thế nào là chân?
Sư đáp:

Vũ trích nham hoa thần nữ lệ
Phong xao đình trúc Bá Nha cầm
(Mưa đẫm hoa rừng: Thần nữ khóc
Gió lùa trúc ngõ: Bá Nha đàn)

Đó là Viên Chiếu, một Thiền sư Việt Nam thời Lý. Còn Khải Tĩnh, vị Sư trẻ Việt Nam hiện đại, giữa tâm và pháp, Sư đã quên được gì cho ngôn ngữ lên ngôi?

Tôi vẫn thích cái thật, cái hồn nhiên, tự sự:

“Lắm lúc nhức tê, đau vậy đấy
Đôi khi quên nhớ, khổ gì đâu
Tết này già nhỉ, đừng buồn nữa
Thôi kệ gắng tu…ấy mới ngầu”
(Già Thật Rồi)

Nhưng độc giả khó tính thì không muốn tôi giới thiệu những câu thơ như thế. Nên sau khi ra khỏi khu rừng, nếu bảo tôi quay lại hái một cành hoa, tôi sẽ hái cành hoa ngay trước mắt này:

“Góc núi mình ên ngồi độc ẩm
Đầu xuân bẻ bút ngắm mưa bay”
(Bè Văn Bến Mộng)

Thùy Ngữ Thất, mùa an cư năm Nhâm Dần

Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền

No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...