Ba
năm rồi sống xa quê
Đến ngày Phật Đản chưa hề dám quên
Ở đây, bàng bạc hương Thiền
Việt Nam Phật giáo triền miên muôn đời
Ngày xưa dưới cánh hoa tươi
Hôm nay Thái Tử ra đời độ sinh
Thế gian còn đó ảnh hình
Vô Ưu hoa nở tươi sinh sắc màu
Tình người vẫn giữ trước sau
Nhớ ngày Phật Đản lòng đau không cùng
Ai mang một mối tình chung
Quê Hương, Đạo Pháp trùng trùng nở hoa
Bây giờ ray rức tâm ta
Bèo mây phận nước, xót xa phận mình
Thắp lên một nén hương trinh
Cho ngày Phật Đản đượm tình Việt Nam
Cúi đầu dưới ánh Từ Quang
Cầu mong Phật độ vô vàng đó đây
Xa cành chim nhớ thương cây
Nửa vòng trái đất mang đầy tâm tư
Quê hương nhớ tự bao giờ
Mái chùa, dân tộc, hồn thơ, ruộng vườn
Ngày Phật Đản: nhớ Quê hương
Niềm đau xin gởi mười phương kiếp người.
Nhớ
Chùa
Từ thuở ra đi vắng
bóng chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con chim đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình
Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lể
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gởi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê
Chuông vẳng nao nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
1949
Đêm
Nay Tròn Trăng
Nhất Hạnh
tặng Huyền Không
Giầy thơm mang
mang kho huyền sử
ly nước xanh cười nét mắt thủy tinh
đã cao vươn từng lớp sóng bạc đầu
và tảng đá lạnh gối sương mù đỉnh cao gió hú
tôi thức dậy chót lưỡi tê
hạt sương ngọn cỏ trời khuya
bỗng ánh sánh xuyên ngang
lưỡi gươm lóe chớp giật
những đám mây chạy mau
phương đông giục giã tiếng kèn
chiếc áo tơi năm nào gió đuổi lá bay …
nét bút anh màu nâu.
Trên cành tay nám mầu sương gió
Màu nâu
Trên đồng ruộng năm nào mồ hôi tưới lúa
giờ phút này tinh cầu luân lạc giữa trời cao
lay chuyển cánh chim bằng
không gian từng vũng toé tung nổ vỡ
một mặt trời đang ngụp lặn ngoài kia
kính như mắt đỏ
ống kính tôi thu hình tiền sử
then cửa đã vừa bỏ lỏng
vạn kiếp xưa từng gài nẻo tương lai
sáng nay lôi ra, bên rừng chim hót
em thoát về
trên ngõ biết
những búp tay chồi non, nụ hoa đọt mướp
níu không gian
bàn tay
bàn tay nâng chiếc đũa người nghệ sĩ tài ba
lùa vũ trụ âm thanh
về ngưng tụ
vào đêm không tịch tịnh
chói!
lần đầu tiên đôi mắt trẻ thơ vào đời
nụ cười trong mắt
bà mẹ quê
củ hành búi tóc
lá tre chiều gom đốt
không gian um khói ấm
Bụt cười sau mây hiền dịu
đêm nay tròn trăng.
Đi
Vào Thơ Huyền Không
Phạm Xuân
Đài
Tôi cảm thấy ngại
ngùng khi định viết về thơ của thi sĩ Huyền Không. Không phải tôi không thích
thơ, trái lại là đàng khác, nhưng đây là những bài thơ nhuốm mùi thiền, mà tôi
lại chẳng có một trình độ nào về thiền cả. Nhưng rồi tôi lại tự nhủ: sao lại
phân biệt thơ thiền và thơ không thiền. Trên hết và muôn đời, thơ là thơ, lo việc
chuyển tải các trạng thái đặc biệt của tâm hồn con người, với một ngôn ngữ
riêng nhằm gây hiệu quả tối đa cho mục đích của nó. Tình yêu hay tôn giáo cũng
chỉ là các trạng thái của tâm hồn người hướng về các đối tượng khác nhau, nhưng
khí thế hiện ra thơ chúng phải được bình đẳng: phải qua các cửa nghệ thuật để tự
giới thiệu mình. Người đọc thơ có cái sung sướng là không cần biết mình đã yêu
chưa hoặc có kinh nghiệm gì về thiền định hay không mà vẫn cứ đọc thơ tình hay
thơ thiền; vần đề là những bài thơ ấy có đem lại gì cho anh ta hay không chứ
không phải anh ta phải đem lại gì cho những bài thơ ấy.
Vậy thì, thôi sẽ bắt
đầu từ mùa Xuân, mùa nở đầu cho một chu kỳ sinh tử. Từ những năm thanh xuân của
đời mình, nhà thơ Huyền Không đã cảm nhận mùa Xuân như sau:
Ô hay Xuân đến bao
giờ nhỉ
Nghe tiếng hoa khai bổng giật mình
Sáng nay thức dậy choàng thêm áo
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh.
Vẫn là cái giật
mình mang tính cách khám phá của muôn thuở của tuổi trẻ đối với chuyển biến của
đất trời, nhưng tác giả đã có đầy đủ sự già dặn và nhạy cảm tinh vi của tâm thức.
Nghe được tiếng hoa đang nở và giật mình vì sự kiện ấy của mùa Xuân không phải
là tài năng thính tai và mẫn cảm của đời thường mà phải là biểu hiện của một khối
tâm linh trong suốt lung linh đang mở ra thế giới và cuộc đời với những ước hẹn
cao thượng. Khả năng nhìn thấy, với mùa Xuân, “Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh” là
một khả năng lạc quan và trong sáng, khả năng của cải đổi và của niềm an lạc.
Khẩu khí của bài tứ tuyệt vịnh Xuân từ tuổi thanh xuân này đã mang dáng dấp triết
học và ẩn dụ của những bài tứ tuyệt đã được ngâm nga dưới mái chùa Việt Nam từ
bao nhiêu thế kỷ qua.
Nhiều năm về sau,
mùa Xuân vẫn gây cảm hứng nơi thi nhân như thủa nào, nhưng ý tứ rõ rệt thẳm sâu
hơn, lời lẽ dậm đà hơn, chứng tỏ bước đi chín mùi của thời gian trên tâm hồn
thơ cũng như tâm hồn đạo:
Sương Xuân rải xuống
sơn hà
Lòng đêm xa vắng mở ra nhiệm màu.
Sự hiền hòa của Phật
giáo đã thấm nhập vào tâm hồn dân tộc Việt Nam từ bao giờ nhỉ? Có phải từ buổi
những chiếc thuyền từ Ấn Độ vượt biển ghé đến Giao Châu, cách đây gần hai mươi
thế kỷ, và những thiền sư lên bờ truyền giảng đạo hạnh từ bi cho dân ta? Có phải
từ đấy các ngôi chùa bắt đầu tham dự vào sinh hoạt làng xã của cộng đồng Việt
Nam, và đã đóng góp vào sự nghiệp giáo hóa ấy một cách thầm lặng và liên tục, hết
đời nầy qua đời khác? Trải qua một lịch sử dữ dằn cay đắng vì phải luôn chống
trả họa ngoại xâm cùng thiên tai, dân Việt Nam từ xưa có đạo Phật để giữ cho
tâm của mình không thành dữ dằn và cay đắng, trái lại tiến triển đến chổ khoan
dung cao thượng xứng đáng là dân tộc có văn hiến.
Trong một làng Việt
Nam nếu đình là khu hành chánh tinh thần thì chùa là nơi tỏa bóng mát tâm linh,
là môi trường hoàn toàn tự giác để tâm hồn nghỉ ngơi và hoàn thiện chính mình.
Văn học cận đại Việt
Nam có một số tác phẩm văn xuôi đề cập về sinh hoạt chùa chiền như Hồn Bướm Mơ
Tiên, Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khải Hưng, Lên Chùa của Thiện Sĩ v.v…, nhưng về thơ
thì bài Nhớ Chùa của Huyền Không có lẽ là bài đầu tiên có tầm vóc về đề tài
này. Thoạt đọc Nhớ Chùa ta dể liên tưởng đến các bài thơ mang nặng tình tự quê
hương của Đoàn Văn Cừ (Chợ Tết, Đám Cưới, Mùa Xuân, Đám Hội) hay Tế Hanh (Quê
Hương, Lối Con Đường Quê) mô tả một cách sinh động các sinh hoạt và tình cảm
bình dị ngàn đời của nông thôn Việt Nam. Riêng Đoàn Văn Cừ, sau khi tả các hoạt
cảnh của hội hè bao giờ cũng kết thúc với bóng
…Một lúc sau khi tới
chổ vòng quanh
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm
Thì cả bọn dần dần cùng khuất lẩn
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân.
(Đám Cưới Mùa Xuân)
…Khi chuông tới
bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về …
(Chợ Tết)
Vệt tháp trắng in
dài trên đồng vắng
Tiếng chuông tối nhặt khoan trong yên lặng
(Đám Hội)
Như muốn khẳng định
rằng cái nền không thể thiếu được trong đời sống Việt Nam chính là đạo Phật.
Nhưng đến Nhớ Chùa thì ngôi chùa làng đã tiến lên thành cận cảnh.
Thấp thoáng đâu
đây cảnh tượng làng
Có con đường nhỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi:
Yên lặng, chùa tôi ngập nắng vàng
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười.
Sinh hoạt tôn giáo
cũng như chốn tu hành tại thôn quê không gây ấn tượng như các loại hội hè đình
đám hoặc các hoạt cảnh làm ăn năng động, nhưng Huyền Không đã đưa ra được tình
cảm đằm thắm của dân làng đối với ngôi chùa của mình, không mạnh mẽ sắc cạnh
nhưng nhu hòa và lan tỏa rộng như một làn hương trầm. Đó là điều mà hình như rất
ít ngòi bút văn học nào của nước ta đã làm được. Có thể đã có những thiên khảo
luận dày thuyết phục rằng Phật giáo đã vào Việt Nam rất sớm và ảnh hưởng sâu đậm
đến tư tưởng Việt Nam ra sao, nhưng điều này thì khác hẳn:
Tôi nhớ làm sao những
buổi chiều
Lời kinh giải thoát vọng cao siêu
Đâu ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu.
bởi vì những buổi
chiều êm đềm như thế, những lời kinh trong ngôi chùa cổ như thế, tình cảm mến
yêu của dân làng như thế đều là các thực tại sống, tồn tại sâu trong thôn quê
và sâu trong ký ức mỗi người chúng ta như từng tồn tại như thế đã hàng ngàn
năm.
Sau các triều đại
đầu của thời đại tự chủ, đạo phật đã thôi đóng vai quốc giáo, nhưng vẫn tiếp tục
thấm sâu vào các mạch ngầm của đời sống tiếp tục góp phần tạo nên tâm hồn và phẩm
cách của con người Việt Nam. Nên khi cho rằng:
Mái chùa che chở hồn
dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông
Thì có thể gây ra
những tranh luận về lý trí trong một quốc gia trên nguyên tắc có nhiều niềm tin
khác nhau về tôn giáo, nhưng về tình cảm, được điều khiển một cách kín đáo bởi
vô thức, thì chúng ta thấy điều đó hầu như là tự nhiên. Có những nơi không nên
vận dụng lý trí vào vì nó chẳng được việc gì cả, như ở đây chẳng hạn, một câu
thơ về hồn dân tộc thì nên lấy hồn ta mà cảm ứng nó vậy. Khi đọc một câu thơ
lên mà nghe lòng ta xôn xao rung động thì đúng là gặp phải mạch ngầm đã chảy
miên viễn tự thâm sâu trong mỗi chúng ta tự đời não đời nào. Nhớ Chùachính
là nhớ nổi niềm ấy đã nằm sâu trong hồn dân tộc và dài dọc theo dòng lịch sử.
Tu hành là một
kinh nghiệm riêng tư. Nhưng một tâm hồn đạo hạnh có cách tỏa sáng riêng của nó
mà thi ca có lẽ là phương tiện chuyển tải hữu hiệu nhất.
Ai xây đời trong
tưởng tượng
Ai dệt đời ngoài muôn hướng
Ai khóc
Ai than
Và ai buồn vì nắng đời chưa chớm
Tìm đâu ra một sớm
Cho loài người tắm gội ý tươi xinh
(Tình Nhân Loại)
Hạnh nguyện lớn
lao ấy đã được tác giả tìm thấy giải pháp thực hiện trong đạo Phật:
Hai bàn tay
Hãy dựng nên tháng ngày
Hai bàn chân
Hãy đi trên đường dài trái đất
Khắp năm châu
Sống trong lòng từ bi Đức Phật
Ngọt ngào như mật
Tình nhân loại thương nhau
(Tình Nhân Loại)
Không những “tìm
thấy giải pháp”, chính tác giả thực hiện giải pháp ấy: người là một tu sĩ.
Chính cái tư cách vừa là thiền sư vừa là thi sĩ đã tạo ra một ngưỡng cửa trong
thi ca của tác giả: bên này là tiếng nói của đời thường, bên kia là ngưỡng cửa
là tiếng nói của kinh nghiệm và cảm hứng thiền định – một vùng đất lạ nhưng đầy
quyến rũ đối với “người phàm”.
Trong hơi thở ngồi
yên nhìn vạn kiếp
Nghe đất trời kể lại chuyện tiền thân
(Tĩnh Tọa)
Khả năng của định
lực được hé mở nằng ngôn ngữ thi ca! Thở…ngồi yên…nhìn thấy…nghe thấy…Rồi ta
rón rén tiếp nhận một kinh nghiệm khác:
Đêm yên vắng ngồi
yên nhìn quá khứ
Thác trên cao đổ xuống mãi trong đầu
Nước cứ chảy, tư tưởng dài lữ thứ
Thời gian nào do dự hỏi ta đâu
(Tĩnh Tọa)
Cuộc hành trình đầy
riêng tư của tâm và ý, cả tác động của thời gian trong trạng thái ấy, đã được
tác giả tiết lộ một phần…Chúng ta chờ đợi dẫn đi vào nhiều nẻo đường mới lạ
khác, nhưng bỗng hành trình chấm dứt ở một chổ ta không ngờ nhất:
Ta không kiếm tâm
mình mà bỗng thấy:
Kìa, đóa hồng đang nở dưới trăng sao
(Tĩnh Tọa)
Ta hình như không
hiểu lắm sự thể như thế là thế nào, nhưng nếu diển đạt cảm tưởng tức thời của
mình, thì sẽ nói: một kết thúc rất thiền! Và cũng rất thơ. Vâng, tức thời tức
chưa kịp suy luận, và đó chính là cái mà nghệ thuật thi ca của thiền tư thi sĩ
đem lại cho tâm hồn và khiếu thưởng ngoạn của ta vậy.
Trạng thái đạt đạo
của một người tu hành dĩ nhiên không thể chia xẻ bằng ngôn ngữ thường cho chúng
ta được, nhưng bài thơ Đạt Đạo của Huyền Không quả là một bài thơ đẹp, vừa về ý
và lời, đẹp ở cả khả năng đưa ta lên cao một bậc khỏi những dây nhợ vướng víu của
đời thường.
Qua thiền môn thấy
trời xanh
Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang
Khói hương quyện cảnh mơ màng
Không gian là chiếc y vàng quấn thân
Tuy là bốn câu tả
cảnh tu tập chăm chỉ thường nhật ở chùa nhưng đã có sự chuẩn bị cho một vượt
thoát: mảnh trời xanh trong hoàn cảnh này đã là một cái gì là lạ, khói hương
thường lệ đã được chủ thể thấy giữa mình và không gian bao quanh không còn ranh
giới, không gian rộng lớn có thể thu hẹp lại quấn quanh ta vừa bằng cái áo của
ta, hoặc là chính ta trở thành rộng lớn mênh mông trong không gian để mặc vừa
cái áo rộng lớn ấy . Tâm thức đã đạt trạng thái chuẩn bị…
Thiền môn xưa sạch
phong trần
Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi
Ta từ sanh tử về chơi
Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng
Điều ấy đã xảy ra.
Cuộc “về chơi” đã tới đích. Không biết tự bao nhiêu kiếp đi lạc vào cõi sinh tử,
không biết đã bao nhiêu lần “người đi trong không gian nhịp xe uốn vòng tử
sinh” (*), bây giờ ta đã tìm thấy quê cũ yên vui rũ sạch lầm than. Người đã thầy
lại bản tâm. Trạng thái sau cùng là sẽ không còn chùa, không còn kinh, bặt ngôn
ngữ, tất cả chỉ là một sự bừng sáng tuyệt đối của một ngày mới vừa rạng xóa tan
cơn mê đời đời kiếp kiếp của quá khứ:
Còn đâu nữa Kim
Cang kinh
Thiền môn biến mất còn mình vô ngôn
Bình minh về ngập hoàng hôn
Cười lên một tiếng tỉnh hồn ngàn năm.
Sau khi đọc câu
“Cười lênmột tiếng tỉnh hồn ngàn năm” tôi cũng thấy “đạt” rồi, không còn muốn
viết thêm về các bài khác nữa, mặc dù còn nhiều bài tôi rất thích. Hình như đã
đến chổ trọn vẹn. Qua mười sáu câu thơ của Đạt Đạo, thi sĩ thiền sư đã dẫn dắt
và truyền cho tôi phần nào cái cảm giác “tỉnh hồn” – đó có lẽ là điểm cao nhất
mà một bài thơ tạo được nơi nguời đọc nó. Và thế là đủ, tôi xin khép lại nơi
đây cảm nghỉ này.
Trên đây tôi không
dám viết về tác giả Huyền Không, đúng ra tôi chỉ viết về tôi khi đọc tác giả ấy,
mà đọc cũng không trọn vẹn. Như thế lại hơn: đừng nên mang tham vọng làm những
việc lớn lao quá sức mình.
Sàigòn, Mùa Phật Đản
Nhâm Thìn
(*) Lữ hành của Phạm
Duy
No comments:
Post a Comment