Monday, December 4, 2023

Phạm Hiền Mây

 
THẦY VIÊN MINH VÀ BÀI THƠ HẠNH NGUYỆN

Chiều nay, đang lang thang xem này xem kia trên mạng, thì đột nhiên, tôi bắt gặp bài thơ Hạnh Nguyện của thầy Viên Minh.

Chỉ với sáu câu vỏn vẹn, Hạnh Nguyện, trong tập thơ Tĩnh Lặng, đã khiến tôi, mất mấy phút, ở trong trạng thái ngạc nhiên đến vô cùng. Vì, bài thơ hay quá. Tuyệt tác như sau:

Sư chèo thuyền đi đâu?
Ta chèo ra biển cả
Đâu không là biển cả
Sao phải nhọc công chèo
A ha!
Đâu không là biển cả
Ngại chi ta chẳng chèo.
 
Như vậy là bài thơ có tổng cộng hai câu hỏi, hai câu đáp (khẳng định) và một câu cảm thán được sắp xếp thành bảy dòng, dứt khoát, rõ ràng, rành rọt. Và cân đối.
Cân đối bởi vì đây là cuộc trò chuyện, là vấn đáp của hai người, giữa hai người, với nhau. Một người là nhà “sư”, điều này không bàn cãi nữa, vì từ ngay câu đầu, người hỏi đã gọi đích danh: Sư chèo thuyền đi đâu?

Người đọc thơ hoàn toàn có thể hình dung trong đầu, điểm gặp nhau của hai người này là ngoài bến sông hay cửa biển. Họ có thể tưởng tượng tiếp, nhà sư, với tay chèo đang loay hoay gỡ dây neo thuyền, chuẩn bị ra khơi, thì gặp người hỏi.
Còn tôi, thì khác, tôi nghĩ thế này, không nhất thiết đây là một cuộc trò chuyện giữa người trên bờ và người dưới nước. Dựa vào kiểu hỏi, dựa vào cách hỏi, tôi cảm thấy, có vẻ như, đây là cuộc đối đáp của hai nhà sư. Người hỏi, có thể là bạn đồng tu, bằng vai phải lứa, mà cũng có thể là, trí, bậc, cao hơn. Người trả lời, tưởng chừng sẽ mắc phải nhiều non nớt, những non nớt của đường tu mới mẻ, ban đầu, nhưng không, chất chứa trong trí óc ấy, tính cách ấy là những thông minh, những mẫn tuệ, sáng láng, ngời ngời.

Người hỏi, giả dụ, giao cho sư mái chèo và chiếc thuyền để ra khơi, tương tợ như, giao cho sư lĩnh một trọng trách nặng nề và khó khăn, thì sư sẽ làm gì?

Sư đáp, không chần chờ:
Ta chèo ra biển cả.

Biển cả, đại dương mênh mông với biết bao điều bí hiểm ẩn chứa, mà nhỏ bé như con người chúng ta đây, làm sao lường hết được. Một thân một mình giữa mênh mông, sâu thẳm, tối đen, với những tai nạn, những hiểm nguy chờ chực, làm sao mà đoán trước. Vậy mà khi được hỏi, rất dứt khoát, không phân vân, không chần chừ, ngần ngừ, trả lời gọn ghẽ: ta chèo ra biển cả.

“Ta chèo ra biển cả” vừa là khẳng định mà cũng vừa là câu hỏi ngược lại, không chèo ra biển cả thì chèo đi đâu bây giờ. Đại từ xưng hô được dùng ở đây - ta, mới mạnh mẽ làm sao; ta - mới dứt khoát làm sao; ta - mới tự chịu trách nhiệm làm sao; ta - chớ còn ai vào đây nữa.

Phía bên kia, dường, uyên thâm và có phần cắc cớ, đã đẩy câu hỏi lên một tầng cao hơn, rộng hơn, sâu hơn, gây sức ép với người được (bị) hỏi:

Đâu không là biển cả
Sao phải nhọc công chèo

Việc đâu cũng đều là việc. Vậy thì hà cớ gì phải nhận cái trách nhiệm nhọc công, nhọc xác ấy chớ?

Thì:
A ha!

Một tiếng buột ra, như tiếng reo, à há, vừa vui sướng vừa thống khoái. Vui sướng vì đây là cuộc trò chuyện lý thú, với người mình thích, mình có phần tôn trọng. Thống khoái vì thấy mình đang bị làm khó, một kiểu làm khó rất thông minh, làm khó rất trí tuệ.
Thì đây, ta trả lời:

Đâu không là biển cả
Ngại chi ta chẳng chèo.

Nếu nói, con đường tu hành chính là con đường ra biển lớn để đến bờ bên kia, thì thay vì ngồi chung trên chuyến thuyền đông đúc, dựa dẫm vào huynh đệ những lúc bão tố, phong ba, làm sao thú vị bằng, làm sao phơi phới bằng, ta, tự mình, điều khiển con thuyền, tay chèo, tay chống.

Đã là nghiệp lực phải mang, vậy thì hãy đối diện với thử thách, đối diện với nguy nan. Tự tu. Tự hành. Tự thệ nguyện.
Tự thệ nguyện phải sang được đến bờ bên kia. Mà muốn qua được thì phải có thuyền, phải tự mình chèo thuyền, thế cho nên, mới gọi là HẠNH NGUYỆN.
 
Đời thật lạ lùng.
Đó giờ, cứ tưởng những người viết văn, làm thơ, hẳn phải được đào tạo từ chuyên ngành văn chương, mới có thể.
Nào dè, làm thơ, viết văn rất hay lại là những người làm những công việc thuần khoa học như các kiến trúc sư, các kỹ sư, bác sĩ… .
Và, các vị trong giới tu hành.
Thơ họ giản dị mà uyển chuyển, mộc mạc mà thanh thoát, đơn giản mà trí tuệ, âm trầm mà lộng lẫy. Phi phàm, quảng bác, thâm viễn, như tôi từng biết, hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thiền sư Thích Nhất Hạnh, và hôm nay, tôi biết thêm, hòa thượng Viên Minh với bài thơ HẠNH NGUYỆN.
Sài Gòn 26.11.2023
 
 
YẾN LAN VÀ BẾN MY LĂNG
 
Đêm nay, trời sáng trăng, dưng không mà nhớ quá chừng một bài thơ, mang mang phong vị cổ, biết đã từ lâu lắm, Bến My Lăng của Yến Lan.
 
BẾN MY LĂNG
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.
Ông không muốn run người ra tiếng địch,
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch,
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh,
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng.
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh,
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
My Lăng, My Lăng, mơ mơ hồ hồ, huyễn hoặc, huyền bí, như chứa muôn ngàn tâm sự, chẳng biết tên ai đặt mà lạ lùng, mà phong sương, mà đầy chất thơ đến thế. Người ta nói, bến này không có thật, vậy mà vừa mới nghe My Lăng thôi, tôi đã cảm như, bến cùng tôi, thân thuộc tự bao giờ.
 
Thường, cứ nhắc đến “bến” là gần như ngay lập tức, trong đầu người ta nghĩ đến chuyện chia xa, biệt ly, người đi, kẻ ở. Cứ nhắc đến “bến” là trong đầu người ta, hình dung ra những hàng cỏ lau vắng vẻ, đìu hiu, bên cô liêu và mênh mông, một dòng sông, lành lạnh, tĩnh êm, trôi dài lặng lẽ.
 
Nhưng bến My Lăng thì khác, My Lăng chỉ toàn trăng và trăng - trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách - chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao - tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng - nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly - sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi - ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách - gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng - ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
Người ta lại còn nói, Yến Lan, lúc sáng tác bài thơ này, ông chỉ mới mười sáu, mười bảy tuổi. Mười sáu, mười bảy thôi mà vẽ được, mà diễn tả được tâm tình của một người sáu mươi, bảy mươi, thiệt, quá là tài, tác giả quá là tài.
 
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
 
My Lăng, My Lăng, có phải là bến sông, nơi tìm đường lánh nạn của những kiếm khách còn sót lại sau trận chiến Đồ Bàn? Nếu không phải là như thế, thì sao ông lái đò, lại phải mang một niềm ân hận hoài mãi. Chỉ vì, mải đọc sách, ngủ quên, để hồn lên tắm ánh trăng cao mà không nghe được tiếng gọi đò hối hả. Cái tiếng kêu trong oan nghiệt và đầy oán trách ấy, cứ ám ảnh mãi ông, khiến ông, sau đó, khắc khoải khôn nguôi. Và buồn.
Đợi khách suốt bao trăng.
 
My Lăng ơi là My Lăng, bến sông trăng My Lăng có thật hay không và ở nơi nào trên cái xứ sở đầy muộn phiền, đầy ly biệt và ngóng trông này, để tôi một lần, được đến, hình dung lại con đò, ông lái đò, lá vàng, cuốn sách dưới trăng, và dòng sông, và bến cũ.
 
Cả một đời thơ, đôi khi, chỉ cần một bài thơ, cũng đủ, như trường hợp Yến Lan. Nhắc đến Yến Lan là phải nhắc đến Bến My Lăng, và, ngược lại, cứ nói về bến sông, cụ thể hơn, một bến sông trăng, thì không thể không nhắc tới Bến My Lăng của Yến Lan.
 
Tôi thích cái chi tiết, vì rượu hết rồi nên ông lái đò mới không buông câu, ông nằm trên đò, đọc sách, đợi người kêu. Nào dè, gió mát quá, lại thêm ánh trăng phủ đầy, rơi vàng màu mộng, thành thử, ông mới ngủ quên.
Giá như, bữa ấy, còn rượu.
 
Còn rượu, ông sẽ thức mà nhâm nhi. Giữa đêm trường vắng lặng, ông sẽ nghe rõ mồn một, tiếng gọi đò. Còn rượu, chắc ông sẽ không phải cứ hoài ân hận, và buộc mình vào tâm thế, bên bến, chờ mãi tiếng gọi xưa.
 
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.
 
Ông không muốn run người ra tiếng địch,
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch,
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.
 
Cũng phải nói thêm một chút về câu - ông không muốn run người ra tiếng địch - vì, không phải bạn đọc thơ nào cũng cảm được tính chất "ý tại ngôn ngoại" của thơ, không phải bạn đọc thơ nào cũng rành rẽ hết sự ngược ngạo, sự phi lý, không tuân theo bất kỳ một trật tự nào xưa nay của ngữ pháp, cái loại ngữ pháp, mà, chỉ thơ, chỉ trong thơ, mới có đặc quyền riêng, kiểu ấy.
 
Địch ở đây là sáo. Người thổi sáo thì thường phải lấy hơi nhiều, nếu để ý, ta sẽ thấy những lúc ấy, đôi bờ vai họ, khẽ run. Nghĩa của toàn câu là, đêm nay, ông lái đò không muốn thổi sáo. Ông không muốn vì tiếng sáo mà làm động đến cái u huyền, võ vàng, cái tĩnh mịch của đất trời đìu hiu khi vắng mặt những vì sao lấp lánh.
Không gian và thời gian như đứng lại, cả bến sông thực thực hư hư, cả trăng trên bến sông, bàng bạc màu tàn phai.
Ảo ảnh. Chập chờn. Thoát tục.
 
Ông tưởng ông không say rượu thì có thể thức chờ khách gọi đò. Có biết đâu, không say rượu, nhưng ông, lại lạc vào trận say trăng.
 
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh,
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng.
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh,
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.
 
Say trăng, say những tờ lá vàng trôi quanh thuyền, lạnh lẽo. Say trăng, say sợi tơ vương trời, say giải trăng trăng. Say trăng, say nẻo quạnh trôi dài, say đêm buồn vây phủ bến My Lăng.
 
Nhà thơ cho ông lái đò say trăng là bởi vì trăng đêm trên bến đẹp. Có nhà thơ nào mà không say cái đẹp. Có nhà thơ nào mà không lãng mạn, phiêu bồng, say cùng trăng, trôi cùng sông, và mơ cùng thơ.
 
Ba câu cuối bài được viết theo kiểu liên vận, tức chỉ một vần, vần bằng, tạo nên một cảm giác cô quạnh tuyệt đối, mang mang một nỗi tủi buồn, và chơi vơi, niềm lữ khách
 
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
My Lăng ơi, còn không. Và ông lái đò ngày xưa nữa, nay đã về đâu. Im lặng quá, đêm nay, trăng màu lưu ly nhúng đầy ai áo. Tôi đợi người về, say chén, bến My Lăng.
Sài Gòn 28.11.2023
 
NGƯỜI VỀ…
biết heo may bến trông chờ
thuyền quay về sớm sương mờ chốn mong
cho chiêm bao ngủ thong dong
cho đôi trăng nước mộng sông suối tình
để nhau không thấy một mình
trăm năm ngắn ngủi yên bình giấc mơ
bên anh ngày tháng là thơ
bên em đời thắm dệt tơ ý hồng
bếp ai khói ấm lên nồng
ngõ ai giậu đã xanh vồng tường vi
gió mùa khéo trở về khi
tay trong tay siết bờ mi khép mừng
lá ơi reo nhé chớ ngừng
hoa ơi trổ đóa cho từng mây bay
con chim nhỏ cất lời say
tròn vành giọng báo hôm nay người về… .
 
CÓ SẦU MẤY CŨNG…
khô dăm củi nhánh liu điu
có mong mấy cũng sông hiu hắt dòng
cũng hai bữa nước lớn ròng
chẳng chi khác để nhau hòng đến đi
giậu dăm đóa trổ tường vy
có trông mấy cũng biệt ly tháng ngày
cũng xa vắng dấu chim bầy
chẳng chi khác chỉ sân đầy cánh rơi
ngõ dăm gót ghé chơi vơi
có thương mấy cũng tả tơi lối mùa
cũng chiều hôm tiếng chuông chùa
và mơi sớm giọng mõ đùa nẻo không
cây dăm lá sót tàn đông
có buồn mấy cũng mênh mông gió tà
cũng trăng bờ ngửa bóng ngà
và sương giọt bến giang hà khói lay
hết ngày thì sẽ đêm thay
có sầu mấy cũng mây bay cuối trời…
 

No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...