Thursday, December 7, 2023

Khải Tĩnh 6

 
Cửa Tùng góc núi khép hờ
Tách trà tri kỷ đợi chờ tháng năm
Cánh thơ tin nhạn mù tăm
Phương trời viễn xứ xa xăm nghìn trùng.
 
Đổi thơ lấy một chén trà
Hong tình ấm lạnh giữa ga phi trường
Xứ người làm khách tha hương
Đời tu có chút vấn vương đôi lần.
 
Mong người luôn được bình an
Đau thương nguyện gánh, gian nan cam lòng
Mặc đời bão táp mưa dông
Tim ta dù nhỏ, tình không mé bờ.
Tách trà cổ độ vị sương
Đợi chờ tri kỷ dặm trường nơi đâu
Tháng năm biền biệt qua cầu
Vắng người hoa cũng úa màu nhớ thương.

Vần thơ gửi cánh chim chiều
Bay vào viễn xứ hoang liêu cuối trời
Tình ta lặng lẽ trao người
Từng trang giấy biếc, từng lời yêu thương.
 

Cánh lá thời gian thoảng vương bên thềm nỗi nhớ, bóng hình kí ức khẽ tụ trong hạt sương thu, miền liêu khách lắt liu đọt nắng tàn ngơ ngác dấu mơ phai, lời viễn xứ xôn xao tình cổ sự trăn trở dặm trường xa thẳm. Chỉ muốn gom hết tháng năm vào con chữ, bỗng thèm níu trọn đạo tình gìn giữ cõi riêng, quẩy gùi thi tứ nghêu ngao giữa ta bà đại mộng, đạp tuyết tầm mai cợt cùng tuế nguyệt trời mây, trên trượng đầu thạch đỉnh tiêu sái đề thơ “đạo tình vĩnh tuyệt”, hốt nhiên gió bạt tay rung ngữ từ rơi xuống va động mấy cung sầu dặm lữ. Thiên địa vô tình nhưng hữu ý, nhân tâm tiểu tiết lại đa đoan

“Tường mộng huyễn trên muôn ngàn phế tích
Thấu nhân tình giữa cuộc thế phù hoa
Lời cỏ đá: mấy ngàn năm vọng mãi
Hiểu vô thường sao cứ mãi đa đoan”

Tuế hàn buốt lạnh, tiết sương cục cựa bung chồi nở lộc điểm sắc khơi hương đón xuân về, hà cớ ngại gì chút đông giá gió cuồng bủa giăng. Đời tu ân sâu tuyệt tận, viễn tình thâm tạ kỳ cùng, một chén trà cố tri mấy độ xuân thu vẫn nhớ, nửa lời nghiêm huấn bao mùa đông hạ còn khắc ghi
 
“Nhớ lại thềm xưa chờ nắng tắt
Mơ về núi cũ ngắm mưa bay
Đệ huynh pháp lữ tình vô lượng
Cốt nhục keo sơn nghĩa tháng ngày”
 
Thiên di luân chuyển, xuân qua hạ tới thu tàn chớm đông, gió thổi mưa sa, thềm xưa rêu móc, Phật tượng vô thinh, trần thế cô đơn lạnh lẽo tận cùng, vẫn vững lòng bước đi.
-----------

Ôi! Thời gian vô sở trụ, năm tháng lạnh lùng trôi, thoảng vèo tóc bạc cơ hồ sương pha, ai có biết mộng trường canh thâu vó lạnh, sẽ thầm thương lối cũ bóng sương cài. Nhớ lại ngày ấy bên am trúc hồ sương khí trời se thắt gió cuộn lá bay, con quỳ xuống đảnh lễ Thầy, nói lời giã biệt Huyền Không, hành trang con xuống núi vỏn vẹn lòng nhiệt huyết vô bờ bến. Thầy vỗ nhẹ vào vai con, nở một nụ cười an tịnh trên môi, rồi khẽ nói:
“Nơi nào con đến hãy tận lực phụng hiến, gieo rắc tình thương, ươm mầm thiện pháp, khơi dậy giác tánh ẩn tàng nơi mỗi người con nhé, có khó khăn chẳng nản lòng, có trắc trở không nhục chí. Hãy kham nhẫn: Dẫm qua sỏi đá, mỉm cười chông gai, Thầy tin con sẽ làm được”
Rồi con chỉ biết nắm chặt tay Thầy mà chẳng thốt nên lời, chỉ vâng dạ, nghẹn ngào thưa: "Huế mình trời trở lạnh, xin Thầy giữ gìn sức khoẻ, kính chào Thầy con đi ạ”. Bên ngoài cổng sài lối mòn xuống núi, có ánh trăng mơ khẽ vương lên tà áo đạo như lời tiễn biệt một người xa...
“Vai trần gánh đạo non thiền
Chí tăng vọng cả trăm miền bể dâu…”
Giờ đây cô thân độc bộ vạn lý biệt trùng, nơi hoa thành viễn mộng chợt thèm lắm chén trà núi đêm trăng. Nhớ về chốn cũ ngày xưa giữa miền sương mơ gió khẽ, bên lều hoa giậu khói ẩn mình trong triền mây lũng trúc, bốn mùa vô ưu góc núi tịnh nhàn điềm nhiên lặng lẽ, trăm sự ngoài kia mưa bời cỏ rối duyên nợ nhạt lòng, muôn việc phàm trần nắng lay đốm vỡ chuyện đời hoá không. Dẫu biệt nguồn xa cội vẫn khắc khoải nhớ nghĩ về ân Thầy nghĩa đệ đạo vàng tình thâm:
“ Tình pháp lữ, nhắn dùm vẫn nhớ
Nghĩa đệ huynh, nói hộ nào quên
Niềm thương sâu nặng không tên
Trà khuya núi vắng trăng lên chạnh buồn”
Phương trời xa lữ thứ, ánh trăng khuya soi bến nước trần khơi như thấu thị niềm đan tâm kiếp “nhạn hồng in mây” lênh đênh tầng không cô liêu lẻ bóng. Con giờ đất khách ly hương mượn cảnh ngụ tình, gom sương mài mực, róc tre làm bút, dệt lụa đề thơ, tỏ lòng kính cảm tri ân muôn trùng, đê đầu nhờ gió, gửi hộ cánh thơ viễn xứ về miền “Đất Tổ Cội Tùng” mảnh tình con bé mọn.
Một thuở hoa vàng vương mắt biếc, bây chừ mây trắng ngự non không, phước duyên thay! Con được làm đệ tử Thầy, được kề cận bên Thầy bao mùa sương thu trăng tỏ, đấy là niềm phúc hạnh vô biên cho kẻ say tình cõi mộng lạc bước đường mơ như con. Vẫn nhớ như in cái ngày xưa cũ ấy, có chàng tu sĩ trẻ vóc người gầy guộc hanh hao, đôi mắt hoen buồn sâu thẳm như chứa đựng cả nỗi bi ai trần thế, lại quyết tâm lập chí bắt chước hạnh tiền nhân, men theo lối mòn dốc đất lên đỉnh non không cầu pháp tầm Sư. Chắc nhờ tâm thành chí cả chiêu cảm nhân xưa, đưa duyên đẩy lối, vào một buổi chiều thu nắng ấm, phúc lành thay được gặp Thầy bên đồi sương mây tía. Ngước nhìn dung nghi đê đầu kính ngưỡng, ôi! châu thân rúng động xúc cảm vô vàn. Kể từ ngày đó, nguyện dừng gót vân du theo Thầy tu học. Ở gần Thầy ngần ấy năm, ngày càng thấy rõ “cái tâm, cái hạnh, cái tuệ” nơi Thầy vời vợi như núi lớn, sâu rộng hệt biển khơi, ngời sáng tựa trăng ngàn. Thầy bậc long tượng oai mãnh trầm hùng, thung dung khẽ bước qua miền sinh tử. Thầy bậc thượng thừa đạt ngộ liễu tình, lý sự viên dung an nhiên vô ngại. Thầy bậc minh tuệ đàm kinh thuyết giáo, khơi nguồn dẫn mạch trăm bến ngàn sông. Thầy bậc đại dụng khế cơ, diệu bút sinh hoa thiên cổ hùng văn chuyển mê khai ngộ. Thầy bậc đại bi vô lượng, tầm long trích huyệt kiến lập thiền lâm, tiếp chúng độ tăng uy đức cao ngời!
Ôi! Điệu cổ thần thanh bậc trượng Tùng tuyết lĩnh lồng lộng giữa trăng ngàn cố lý. Từ Linh Thứu lịch đại truyền thừa cổ ấn hiển hiện lời kinh tuệ tiêu sơ nơi Huế Thành cổ mộng, bậc sĩ khí vô song, tuệ tài kiệt xuất bước vào cõi thế, thắp đuốc soi đường tiếp độ hậu lai mở ra một chân trời hoằng viễn chánh pháp mai sau. Giữa tâm chấn địa cầu, mịt mù biên phương cõi giới “Tây Cuồng Đông Dị” triết mộng lý huyền, nơi vô sở trú bậc hiền tuệ thượng sĩ lặng lẽ gióng lên tràng pháp vang rền khắp chốn.
Giữa triều đông hải trùng khơi dậy sóng, thức tình hư tưởng ngỡ chừng tuyệt lộ chim di, nơi bể dâu bậc thiện trí quyền biến cơ tuỳ “vỡ muối đề thơ” khai ngộ chỉ thẳng thấy rõ bến bờ thực tánh của ngã và pháp.
Bụi yên thềm nắng bóng trúc quét, sóng lặng hồ thu vầng trăng soi, thế gian hữu hạn còn tâm lượng Thầy thì vô hạn, con muốn “Bên Thầy Mỗi Sớm” uống chén trà sương núi, lắng nghe lời Thầy dạy dỗ bảo ban. Chỉ có nơi Thầy, con mới cảm rõ được cội nguồn thánh thuỷ, huyết thống tâm linh mạng mạch ngàn đời. Ôi! “Hốt phùng thiên để nguyệt” Huyền không trong mắt con đẹp và thơ mộng biết nhường nào:
“Phật cảnh Huyền Không giữa đất trời
Đây miền tịnh xứ khổ sầu vơi
Hương từ cổ diệp hòa trăng nước
Thảo địa thiền môn lẵn tiếng lời
Cửa trúc, ghì chân người liễu đạo
Thềm rêu, đỡ gót bậc ly đời
Thơ đề phiến gỗ phù vân mộng
Đỉnh cuộc đâu màng huyễn đốm ơi”
Thầy trò duyên ngộ, thiết cận nhân tình uy đức nghiêm tu giữa tháng ngày gạo châu củi quế, khép cửa an thất chuyên nhất công phu, nơi xó núi am tranh mái rạ vẫn có đạo lớn truyền trao. Thầy là bản thể Huyền Không, là tinh thần sơn thượng, là linh hồn trong từng viên đá khóm cây nơi này, đi xa lại nhớ bài thơ Quê Hương Vạn Đại năm nào của Thầy, có đoạn:
“Người đi, người về - Huyền Không còn mãi
Thể vô lưu nên trôi chảy muôn đời
Thể vô cư nên trú xứ ngàn nơi
Thể vô tướng nên làm sao biến hoại”
Thầy ơi, bản thể Huyền Không, tinh thần sơn thượng mà Thầy đã truyền trao sẽ muôn đời vạn kiếp trôi chảy không dừng nghĩ trong bất tuyệt miên trường sinh tử. Nhân ngày hướng vọng Cội Nguồn huyết mạch, con phụng chúc Thầy Bách Thụ Tuế Sương, cúi đầu đảnh lễ Thầy. Dẫu con phấn cốt toái thân cũng không đền đáp hết thâm ân Thầy dạy dỗ, nguyện tri ân niệm ân báo ân trong muôn một. Ôi! Ngôn ngữ trần gian nào tả hết được ân đức vô cùng nơi Thầy, tâm thành nhưng vụn ý lời, con chỉ biết cúi người ngưỡng bái thâm ân.
Đại thụ Ngoạ Tùng, điểm tuyết sương
Trăng soi đạo nghiệp, tỏa mười phương
Trường mi tuệ nhãn, thâu kinh sử
Khoái nhĩ triều âm, nhiếp luật chương
Thế ngoại ly trần, khai diện mục
Tâm trung ẩn ngọc, lộ nhiên hương
Không môn tỉnh thượng, đàm duy giác
Cổ nguyệt sơ nguyên, pháp hiển tường
Cuộc mộng thõng tay, tình vạn trượng
Triền mơ rảo gót, nghĩa trăm đường
Sơn cùng độc thụ, thơ ươm lửa
Thủy tận cô phong, bút phẩy gương
Công án thiền thi, treo đất thực
Thoại đầu văn mặc, vén mây hường
Hư không đá vỗ lời như thị
Cố quận tao Phùng, lạc trú xương
Dựng mái lều tranh miền quạnh vắng
Gửi đời danh thắng: cõi thiêng lương
“Ngũ hồ”: hữu hạnh, rời nhân tục
“Thất cảnh”: vô công, lánh sự thường
“Bạch Yến” dòng xưa, thân tiếp nối
“Hoàng Hoa” lối cũ, trí thừa đương
“Đông hàn tam hữu” trà lưu khách
“Gác sách” kiến tri, mối mọt, lường
Từ mẫn mát lành, tăng chúng tụ
Nghiêm hoà ngát dịu, thiện hiền nương
Danh thơm bốn biển, lời không luyến
Tiếng tốt năm châu, lợi chẳng vương
Bình bát hoá duyên, cười hỷ xả
Mảnh y hoằng độ, kết yêu thương
Tam niên diên bích: càn khôn chuyển
Bỉ ngạn dong buồm, đáo lạc, tương
Tuệ ngọc sáng trong, bừng muôn nẻo
Giới châu thanh tỏ, chiếu trùng dương
Thung dung góc núi, nhìn hoa viễn
Tự tại am tranh, ngắm huyễn trường
Cội gốc đức dày, lòng dị giản
Nguồn ân nguyện lớn, khí kiên cường
“Đức tham thiên địa” ngời tinh đẩu
Cúi lễ Thầy con: “thọ tuế khương”!
Cánh lá thời gian thoảng vương bên thềm nỗi nhớ, bóng hình kí ức khẽ tụ trong hạt sương thu, miền liêu khách lắt liu đọt nắng tàn ngơ ngác dấu mơ phai, lời viễn xứ xôn xao tình cổ sự trăn trở dặm trường xa thẳm. Chỉ muốn gom hết tháng năm vào con chữ, bỗng thèm níu trọn đạo tình gìn giữ cõi riêng, quẩy gùi thi tứ nghêu ngao giữa ta bà đại mộng, đạp tuyết tầm mai cợt cùng tuế nguyệt trời mây, trên trượng đầu thạch đỉnh tiêu sái đề thơ “đạo tình vĩnh tuyệt”. Hốt nhiên gió bạt tay rung ngữ từ rơi xuống va động mấy cung sầu dặm lữ, một thoáng sững người cảm ngộ: “Thiên địa vô tình nhưng hữu ý, nhân tâm tiểu tiết lại đa đoan”, sát na bùng vỡ tuôn tràn, tâm tưởng thẳm sâu bất tuyệt:
“Tường mộng huyễn trên muôn ngàn phế tích
Thấu nhân tình giữa cuộc thế phù hoa
Lời cỏ đá: Mấy ngàn năm vọng mãi
Hiểu vô thường sao cứ mãi đa đoan”
Tuế hàn buốt lạnh, tiết sương cục cựa bung chồi nở lộc điểm sắc khơi hương đón xuân về, hà cớ ngại gì chút gió đông cuồng giá rét bủa giăng. Đời tu ân sâu tuyệt tận, viễn tình thâm tạ kỳ cùng, một chén trà cố tri mấy độ xuân thu vẫn nhớ, nửa lời nghiêm huấn bao mùa đông hạ còn khắc ghi:
“Nhớ lại thềm xưa chờ nắng tắt
Mơ về núi cũ ngắm mưa bay
Đệ huynh pháp lữ tình vô lượng
Cốt nhục keo sơn nghĩa tháng ngày”
Thiên di luân chuyển, xuân qua hạ tới thu tàn chớm đông, gió thổi mưa sa, thềm xưa rêu móc, Phật tượng vô thinh, trần thế cô đơn lạnh lẽo tận cùng, vẫn vững lòng bước đi.
Trà khuya viễn xứ, mượn trăng soi chữ, lấy chữ soi tâm:
“Trăm năm lòng hỏi lấy lòng
Sự đời muôn việc một dòng nước xuôi”
Thú thật đời tu ngẫm thẹn thấu lòng “rốt cuộc trần gian dạy ta được điều gì? Hay chỉ là trưởng thành để giả dối, khôn ngoan để được lòng, cho đi để nhận lại, nhân danh để đậy che, sâu tận chỉ là vỏ bọc phủ một lớp hư ngụy tục phường thiển thô. ”Có vẻ như đâu đấy một lối mòn sinh tử giữa đại lộ phù hoa, hay một mảnh tơ trần bện chặt bủa vây, níu, đày cõi trầm mê. Trót xuôi dòng cuộc thế chỉ là kẻ phàm tăng tục lữ thất bại trước chính mình, còn ngược nẻo ly trần giả trá như chân ấy, lại ngại trúc trắc cô liêu giữa đường xa lẻ bóng. Thế nên, cũng nửa đời hơn tóc rối chớm sương, việc gì cũng nửa vời cho có lệ, tuệ nghiệp thì èo uột trật trầy, trăm sự thì hậu đậu vụng về, dăm ba câu thơ danh hảo chẳng đổi nổi chén trà đất khách, bấy lời hoa ngữ nhạt nhẽo nào tìm thấy chân tình nguồn cội, cậy chút tài mọn tận hiến “ươm thiền trẩy đạo” rồi ngổ ngáo cuồng ngâm dông dài cơn nước, lờ trôi lời hạnh nguyện giữa ba đào sóng gió triền miên. Phương trời xa dâu bể, có cánh nhạn chiều lạc lõng sầu liêu, cõng niềm đại nguyện vô biên, nhất phương nhất niệm vượt trùng mê bến mộng, chỉ mong muôn kiếp “trọn đạo, vẹn tình”
"Tình Thầy kinh pháp ân vô lượng
Nghĩa đệ văn thi lửa hữu hằng..."
Con xin gửi lời biết ơn nghìn trùng, lời tri ân sâu nặng đến Thầy (Sīlaguṇo Mahāthero). Giữa đời dâu bể, nhờ thiền ngôn pháp ngữ của Thầy đã dưỡng nuôi con lớn lên trong “Ngôi Nhà Chánh Pháp”. Cảm ơn đệ huynh lời kinh khuya sớm, cảm ơn chén trà những lúc buồn vui, cảm ơn núi rừng Huyền Không Sơn Thượng đã cưu mang một tâm hồn lãng đãng khói sương.
Biệt Trùng Sơn
Đứa con Huyền Không





No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...