Thursday, April 4, 2024

Khải Tĩnh - Thơ

 
Bách Thụ Tuế Sương
(Lời Hướng Vọng Cội Nguồn,
Kính Dâng Huyền Không Mười Phương Mây Trắng)
Miền non lĩnh, chung trà thuở nọ
Cõi trăng khơi, thiên cổ tao phùng
Tình ta hữu thủy vô chung
Kể gì vạn kiếp tận cùng nhân gian.
Bát nước lạnh đỡ lòng xứ lạ
Củ khoai lùi lót dạ quê xa
Chiều nay có kẻ bến phà
Ngắm nhìn bèo dạt hiểu ra phận mình.
Bên trời vong lữ sương khuya giá lạnh, nghĩ nhớ về Thầy khoé mắt đỏ cay cay, một miền kí ức xưa lại ùa về trong tâm tưởng là khung trời bình yên nơi góc núi am mây. Cứ nghĩ cả đời cạnh Thầy tu tập, chả thiết đi đâu cả, vì nơi nào “không mộng ảo, không bể dâu” vậy mà giờ làm cánh chim trời viễn xứ lao vào chí nguyện mù khơi…
“Đất khách tận cùng niềm quạnh vắng
Quê người sâu thẳm nỗi cô đơn…”
Sinh tử là niềm cô đơn cùng tận, hành trang là nỗi ngao ngán vô biên, cứ nghĩ chí nguyện là xứ mệnh ngờ đâu là đáy vọng trầm luân. Chỉ muốn làm gã sơn tăng ngày ấy, về lại nơi mái nhà xưa, ngắm vầng trăng sơ thuỷ treo đỉnh triền sơn phương…
“Có gã sơn tăng về núi cũ
Nhìn hoa đáy nước thấy dung nhan…”
Đây mới là cội nguồn thân thế, cố hương thuở nào bị lãng quên thất lạc, thôi thì “ra đi tức thị trở về”, đi để giác ngộ bài học nơi trần thế, đích đến cuối cùng là tìm lại chính mình giữa bao cuộc nhớ thương.
Bỏ non, bỏ tổ, bỏ nguồn, bỏ cội
Bỏ phận, bỏ danh, bỏ tiếng, bỏ lời
Bỏ bao ngây dại tục triền xó mộng
Bỏ lại tình em đốm vỡ sương hời!
Bỏ quên thế sự rừng sâu
Trăm năm trần mộng ngẩng đầu thoáng qua
Sông chiều chảy ngược về xa
Non cao cười mỉm ta bà lặng rơi.
Buốt Chơ Vơ
Trà khuya ngủ muộn dệt vần thơ
Văn bút bồng phiêu, khẽ dại khờ
Ngọn nến hằn sâu trên mắt biếc
Lều hoa ẩn thẳm dưới trăng mờ
Tình xưa xa lạ niềm thương nhớ
Nghĩa cũ dửng dưng nỗi đợi chờ
Trăm cuộc bể dâu còn khắc khoải
Sương ngàn gió lọng buốt chơ vơ.
Chữ tình viết mãi vẫn rung tay
Giấu chặt vào tim chẳng tỏ bày
Ý ngữ lời thương con nước chảy
Bè văn bến mộng ánh trăng say
Cỏ hoa lối cũ sương phai nhạt
Rêu đá thềm xưa bụi dặt dài
Góc núi mình ên ngồi độc ẩm
Đầu xuân bẻ bút ngắm mưa bay.
Cửa Tùng góc núi khép hờ
Tách trà tri kỷ đợi chờ tháng năm
Cánh thơ tin nhạn mù tăm
Phương trời viễn xứ xa xăm nghìn trùng.
Cuộc lữ, gót ta bà
Cố xứ biệt mù sa
Mưa rơi bờ mộng trắng
Núi thẳm lạnh tình ta.
Cuộc về: say cõi bể dâu
Tuý tình men mộng cạn bầu trăng neo
Em ơi trăm nỗi bợn bèo
Sá gì tư niệm mấy hèo hoa sương.
Đạo vàng soi bước con đi
Giữa đời có Phật ngại gì bão giông
Mặc sương gió, chẳng nản lòng
Trái tim kiên định vượt dòng tử sinh.
Đâu Nhớ Nổi
Lối lên Khúc khuỷu mấy truông đèo
Cách biệt muôn trùng, cõi vắng teo
Mái lá lưng mây, tâm tịch lặng
Suối triền cội đá, đạo trong veo
Trà khuya tĩnh tại, lờ sương vỡ
Núi lạnh điềm nhiên, mặc gió reo
Trăm sự hồng trần đâu nhớ nổi
Hoa tàn nguyệt khuyết, sát na vèo.
Đôi khi cần chút dại khờ
Đôi khi mắt nhắm làm ngơ sự đời
Đôi khi phố chợ kiệm lời
Đôi khi buông bỏ là nơi an bình.
 
Đôi khi ngẫm cũng lạ kỳ
Đời tu dung dị có chi bận lòng
Vậy mà giữa cõi non không
Chợt thèm một chén trà nồng cố nhân.
Đời Người Chỉ Cần Có Thế!
Ước mơ dung dị về chốn bình yên. Nơi sơn cùng thủy tận dựng lều tranh mộc nhiên dị giản, cách biệt nhân gian. Ngày ngày hai bữa cơm rau đạm bạc tịnh nhàn, sống an bần tri túc, lặng lẽ góc núi, chẳng mảy may đến hư danh mộng đốm thế trần. Phía trước lều tranh trồng vài khóm hoa, bụi trúc, giò lan; đằng sau ụ rơm là giàn thiên lý lẫn bầu mướp, bồi vài luống đất trồng ngô, khoai, sắn dân giã. Lòng trạm nhiên kiên trú, muôn sự yên lắng không vướng bận thị phi nhân ngã thế tình. Bốn mùa bạn cùng gió núi sương rừng, trăng nước trời mây, mặc tháng ngày êm ả nhẹ trôi qua miền tịch lặng. Trọn vẹn giản đơn, sáng chăm vườn ươm cây trỉa đậu, trưa cất cuốc nghỉ ngơi độ ngọ, chiều xế đọc ngẫm Kinh lòng vô tự, điềm nhiên nâng chén trà nhàn ngắm mưa bay lá đổ bên thềm quán lẽ diệt sinh; khuya ngồi bên Phật tượng tĩnh tọa công phu, sám tạ, hướng hồi đến người thương, đời người chỉ cần có thế.
Am mây Bích Hải Huyền Sơn
Đổi thơ lấy một chén trà
Hong tình ấm lạnh giữa ga phi trường
Xứ người làm khách tha hương
Đời tu có chút vấn vương đôi lần.
Đời tu đầy đủ, nói chi nghèo
Có tận tam y, nhất bát theo
Thừa tự mầm kinh, trăng tĩnh tại
Nối truyền pháp tánh, ngọc trong veo
Đường xa nào ngại muôn trùng gió
Mưa lạnh đâu màng vạn dặm đèo
Mấy đỗi xuân về miền tịch lắng
Mai rừng chớm nở, giọt sương reo.
“Góc núi mình ên ngồi độc ẩm
Đầu xuân bẻ bút ngắm mưa bay”
(Bè Văn Bến Mộng)
Góc phố cũ mưa giăng màu nhớ
Cung đường xưa hoa nở niềm khơi
Dặm chiều lạc bước ven trời
Chợt nghe chuông điểm nhẹ vơi tình trần
Huyền Không Sơn Thượng “cõi Phật giữa chốn nhân gian” nơi chiêm bái học đạo của thiện tín mười phương. Nhưng ít ai biết xưa kia là đất trống đồi trọc, chỉ có một cây duy nhất bên triền núi, gọi là “độc thụ sơn”, ven chân đồi kéo dài là khe mương trũng bùn cùng hằng trăm hố bom đạn, đất sỏi cằn khô, qua bàn tay “hữu hạnh vô tác” của Thầy đã kiến tạo nên một cõi sơ huyền sương khói hữu tình. Toàn bộ không gian bố trí mượn “từ, khí, lực” của thiên nhiên, khởi chứa “nội tĩnh nhất tâm, tàng phong tụ thuỷ” từ cụm đá, khóm cây, giậu trúc, đình tạ, thi trai văn các đều thấm đẫm hồn đạo, lặng thầm chuyển tải đức tính tự nhiên của trời đất như: vững chãi trúc Tùng xanh lá, diệu mềm lan thảo thơm hương, hạo khí nước mây trầm mặc, hoang sơ đá cỏ an nhiên, ngũ hồ Sơn Thượng ẩn mật vô ngôn “công thành danh thoái”, thất cảnh Huyền Không hàm tàng hữu đức “phúc tụ tâm buông”.
 
Lang bạt bao mùa nhớ cố nhân
Chén trà tuế nguyệt tựa phù vân
Khói mây ướm lạnh phai màu tóc
Gió bụi vương dài nặng gót chân
Văn bút thắm tình ươm tĩnh mặc
Sử kinh đượm nghĩa gác phong trần
Nhìn về chốn cũ cay lòng mắt
Mới đó ta-người biệt mấy xuân.
Lắng nghe Tình Tự Cõi Không
Lắng nghe tiền kiếp nỗi lòng thẳm sâu
Lắng nghe sinh diệt lạc sầu
Lắng nghe pháp thực nhiệm mầu như nhiên.
Chương trình Radio: TÌNH TỰ CÕI KHÔNG, xin gửi đến mười phương thiện hữu những chuỗi tản văn Tình Đời Ý Đạo, được tác giả viết lác đác trong suốt dặm trường thiên lý gió bụi mù sương. Nay quý mến ra mắt đến người thương, xin dâng niệm lành tri tạ mọi nhân duyên hiện hữu giữa cõi đời.
"Tình Thầy kinh pháp ân vô lượng
Nghĩa đệ văn thi lửa hữu hằng..."
Con xin gửi lời biết ơn nghìn trùng, lời tri ân sâu nặng đến Thầy. Giữa đời dâu bể, nhờ thiền ngôn pháp ngữ của Thầy đã dưỡng nuôi con lớn lên trong Ngôi Nhà Chánh Pháp.Cảm ơn đệ huynh lời kinh khuya sớm, cảm ơn chén trà những lúc buồn vui, cảm ơn núi rừng Huyền Không Sơn Thượng đã cưu mang một tâm hồn lãng đãng khói sương.
Biệt Trùng Sơn
 
Lời thề muôn kiếp lai sinh
Nhem thơ sưởi ấm cõi tình nhân gian
Lên non tìm mảnh trăng tàn
Rơi trên thềm cổ đã ngàn năm qua!
Long lanh đầu cỏ giọt sương lam
Bỗng vỡ nhoè ra: mảy bụi chàm
Gánh đạo ngõ đời trăm sự nhẫn
Ươm hoa rẻo phố vạn điều kham
Chùa xa am vắng: lơi, kinh vọng
Núi lạnh người thưa: bặt, pháp đàm
Có gã nhàn tăng lay bóng nguyệt
Khẽ cười sinh tử: giấc mơ phàm!
Lữ quán trần gian cõi bụi hồng
Cuối chiều rơi vỡ giọt tình không
Mưa giăng lối mộng sầu trăm ngả
Thuyền lạc bến mơ lạnh mấy dòng
Mấy thuở ly hương buồn trĩu nặng
Bao lần biệt xứ nhớ mênh mông
Ngày xa thao thức lời dang dở
Giấu tận vào tim một nỗi lòng.
Am Mây Bích Hải Huyền Sơn
Về đây góc núi mênh mông thưởng trà!!!
Lưng trời lạnh lẽo: nỗi sầu đông
Chợt nhớ cố nhân, khẽ ấm nồng
Một thuở: trót say tình cõi mộng
Bây chừ: nguyện tải đạo non không
Mong đời ly biệt, duyên còn thắm
Xin giấc tao phùng, nghĩa vẫn hồng
Bỗng cánh đào phai vương mắt biếc
Vội che khoảnh gió, ngại hương lồng!
Miền non lĩnh, chung trà thuở nọ
Cõi trăng khơi, thiên cổ tao phùng
Tình ta hữu thuỷ vô chung
Kể gì vạn kiếp tận cùng nhân gian.
Miền Vô Sự
Bỏ lại sau lưng những tháng ngày
Vào triền non lặng, ẩn hang mây
Nhân tình chẳng luận đời trong đục
Thế thái không bàn chuyện đúng sai
Thạch đỉnh mây bay chiều gió lộng
Thềm hoa nắng vỡ bóng sương lài
Dáng người xuất sĩ miền vô sự
Khẽ bước ra ngoài cuộc tỉnh say.
Mời em cạn chén tao phùng
Rồi mai ly biệt nghìn trùng cách xa
Gió sương ngại nẻo quan hà
Đường trần dăm ngả trăng tà nhớ nhau.
Mộng Hồ Nguyệt Tận
Người vong lữ, kẻ non ngàn
Mộng hồ nguyệt tận cung đàn trầm kha
Tình thiên cổ, nghĩa hằng sa
Tử sinh vạn kiếp mãi là cố nhân.
Mong người luôn được bình an
Đau thương nguyện gánh, gian nan cam lòng
Mặc đời bão táp mưa dông
Tim ta dù nhỏ, tình không mé bờ.
Mười Năm Tình Cỗi
Canh tàn sầu lữ tóc sương phai
Niềm nỗi cô liêu giấc mộng dài
Gót nứt bụi hằn bao dặm núi
Y sờn gió bạt mấy tầng mây
Người xưa gác tía, bâng khuâng nhớ
Phương cũ nắng hồng, váng vất say
Trà thếch, lời thề...môi quện đắng
Mười năm tình cỗi giọt mưa bay.
Nay về dừng gót vân du
Nay về hứng giọt sương thu pha trà
Nay về gặp lại chính ta
Nay về một gánh ta bà nhẹ rơi.
Nay về núi vắng rong chơi
Nay về hứng giọt đất trời hiên sương
Nay về không luyến tơ vương
Nay về an trú cố hương thuở nào.
Nay về nhặt cánh hoa rơi
Nay về khép lại sự đời qua sông
Nay về gác mái chèo không
Nay về mộng vỡ trắng dòng thời gian.
Nay về độc ẩm non không
Nay về rũ bụi bên dòng phù sinh
Nay về thắp lửa tâm linh
Nay về gặp lại chính mình thuở xưa.
Nay về hội ngộ vân am
Nay về huynh đệ đạo đàm chân phương
Nay về ươm hạt yêu thương
Nay về gặt đóa tâm hương tặng người.
Nay về rũ gánh phong trần
Nay về nhặt chữ gieo vần thơ say
Nay về níu áng mây bay
Nay về góc núi tháng ngày lặng yên.
Bích Hải Huyền Sơn
Những hoài niệm, chỉ là cảm xúc
Bao nỗi buồn, có lúc sẽ qua
Còn đây nốt nhạc, hương trà
Để chiều nhân thế mình ta nhớ người.
Nửa đời luân lạc tết tha phương
Nhớ lắm chén trà vị cố hương
Chốn cũ hoa trơ tình nhạt nắng
Thềm xưa rêu trụi nghĩa mù sương
Bút cùn mực cạn còn lưu luyến
Gió lạnh trăng mờ vẫn vấn vương
Một cõi bên trời niềm quạnh vắng
Lòng xuân trăn trở giọt sầu thương.
Phong Nguyệt Hữu, tình chờ cạn chén
Thuỷ Vân Đàm, trà hẹn nâng ly
Cuộc tàn nặng nghĩa cố tri
Xa nhau cổ lụy lòng ghì nhớ thương.
Rẻ Lắm Thay
Có những niềm riêng chẳng tỏ bày
Canh sầu thao thức ánh trăng phai
Sương mờ núi cũ, tình hiu hắt
Gió lạnh am xưa, nghĩa lắt lay
Mực chữ lem nhoè bao kẻ thích
Sử kinh mối mọt lắm người say
Đạo thiền phố chợ, bày rao bán
Một mớ mấy đồng, rẻ lắm thay.
Sơn lĩnh mù tênh chẳng bóng người
Biệt trùng sương khói giọt tình rơi
Hoa vương cửa đạo phô bày ý
Gió thoảng thềm xuân muốn ngỏ lời
Đất lạnh ngàn năm chờ nắng ấm
Cỏ sầu muôn thuở đợi mưa vơi
Chén trà liêu vắng, buồn thôi ngẫm...
Kinh kệ an nhiên, lặng tiếng đời.
Sơn môn có gã tình tăng
Yêu hoa mắt biếc, yêu trăng ngọc ngà
Yêu niềm sinh tử hà sa
Yêu em vô lượng có là trầm luân?
Sương ngàn gió núi bao la
Gạo sen bách diệp ủ trà lãng vân
Đạo tình trăng nước dệt vần
Ba ngàn tục niệm một lần thả trôi.
Ta còn trăm mảnh tình con
Để đời dặm lãng: gót mòn bụi vương
Ta còn trăm nỗi mộng thường
Để bè lụy bến nhớ thương trăng vàng.
Ta mượn nhân gian một giọt tình
Nhỏ vào chén mộng bể phù sinh
Tuý trần chuốc cạn sầu hương sắc
Huyễn thế nốc say luỵ bóng hình
Hữu ý thầm thương lời bỉ ngạn
Vô tâm trộm nhớ điệu phong linh
Trút thề ráo cuộc tiền duyên nợ
Trả lại tiêu nhiên, khúc đoản kình!
Tách trà cổ độ vị sương
Đợi chờ tri kỷ dặm trường nơi đâu
Tháng năm biền biệt qua cầu
Vắng người hoa cũng úa màu nhớ thương.
Tiếng chim heo hút vọng sơn đầu
Sợi nắng hoàng hôn lạc bể dâu
Gió lộng sương sa tình ấm lạnh
Mây tan khói lãng nghĩa nông sâu
Nhân duyên quán chiếu xa niềm nhớ
Sinh diệt liễu tường lắng nỗi sầu
Đá nở hoa xuân vương cửa đạo
Nghìn trùng ly biệt vẫn trong nhau.
Tháng năm nghĩa nặng tình sâu
Biệt ly cạn chén trăng sầu sương rơi
Người xa cách mấy phương trời
Mà nghe trong gió tiếng lời nhớ thương.
Thế tình con nước đầy vơi
Xả buông vô sự giữa đời sắc không
Câu kinh bối diệp nguồn trong
Liễu tri như thực vô mong vô sầu
Tuổi xanh hành cước bạc đầu
Trăm năm cuộc mộng qua cầu đánh rơi.
Thị thành hoa lệ không quen
Ngó lên cao ốc tưởng đèn là trăng
Có ai hỏi, sẽ thưa rằng:
Đời tu chí nguyện sơn tăng hữu tình.
Thơ còn muôn nỗi nhớ thương
Để trăm năm mộng: neo vương bóng hình
Trần gian: gùi chữ nặng tình
Bạc đầu gánh mãi: hỏi mình buông chưa?
Tình mây hoa gió, khẽ ôm chằm
Dặm khách y sờn buốt lạnh căm
Trăng núi, phố ngàn…xa lạc lõng
Cánh thơ, tin nhạn…biệt mù tăm
Tim nồng cục cựa, hồn sương vỡ
Mắt biếc nhíu nheo, bụi trấu găm
Một sợi hồng trần neo tuế nguyệt
Quan hà lỗi hẹn, vọng ngàn năm.
Tình ta bất khả tư nghì
Trót yêu trần thế sá gì tử sinh
Trải muôn vàn kiếp điêu linh
Chạnh nghe một tiếng chày kình cố hương!
Trà khuya viễn xứ trở trăn gì?
Có lẽ nặng lòng nghĩa cố tri
Mái lá chùa xưa luôn gợi nhớ
Vần thơ núi cũ mãi hoài ghi
Hoa sầu trụi úa, quay lưng bước
Tình cỗi héo khô, ngoảnh mặt đi
Bao chuyện buồn vui xin gửi lại
Khứ lai vô sự gót nhàn vi.
Trà vắng cố nhân sầu bóng nguyệt
Đời biệt tri âm khuyết vần thơ
Tình như con nước vỗ bờ
Cuốn theo nỗi nhớ lững lờ trôi xa.
Trăng vỡ hiên mây đốm mộng đầu
Bỗng tình phút chốc vội nông sâu
Người xa trà nhạt: sầu non quạnh
Giấc muộn nến nhoè: luỵ bóng thâu
Có áng mây hồng: thay sắc cũ
Để cơn gió thắm: ngã hương nhàu
Dẫu mai cát bụi mờ phương khách
Một góc ven trời: nguyện nhớ nhau!
Am Mây Bích Hải Huyền Sơn
Trở về núi cũ…thôi thì
Một gian lều cỏ không wifi điện đèn
Vậy mà ấm áp thân quen
Mặc đời chê gã tăng quèn vô danh.
Đồi mây gió vọng cô liêu
Chuyện tình mùa cũ trong chiều nắng vương
Người am vắng, kẻ viễn phương
Chắc gì trong cõi vô thường nhớ nhau.
Từ khi dâu bể biệt nguồn
Tình ta một cõi thơ buồn không tên
Kệ kinh học nhớ để quên
Có lời sương trắng vỡ rền dặm không.
Tuyết lĩnh cô phong nhất ẩm trà
Tuế hàn vọng nguyệt chỉ mình ta
Bút cùn triện nhạt, lời thơ chạnh
Giấy mọt mực nhòe, nét chữ sa
Hoa nở hương len miền thảo cốc
Sương tan khói lãng bể trần ba
Hỏi ai còn nhớ người tăng sĩ
Đã nguyện quên đi mộng ái hà.
Ươm Chí Nguyện
Nhớ về núi cũ những đêm mưa
Mới đó giờ đây biệt mấy mùa
Kẻ ở bỗng nghe: xa lạ lắm
Người đi chợt thấy: lẻ loi thừa
Đạo tình ngược hướng, e mây tản
Pháp lữ mù phương, ngại gió lùa
Đất khách lặng thầm ươm chí nguyện
Đành quên ngày tháng góc rừng xưa.
Vai trần gánh đạo non thiền
Chí tăng vọng cả trăm miền bể dâu
Cõi này: gió lạnh hoen sầu
Tình ta vỡ hạt sương ngâu cuối trời!
Vần thơ gửi cánh chim chiều
Bay vào viễn xứ hoang liêu cuối trời
Tình ta lặng lẽ trao người
Từng trang giấy biếc, từng lời yêu thương.
Vẫn Trong Nhau
Tiếng chim heo hút vọng sơn đầu
Sợi nắng hoàng hôn lạc bể dâu
Gió lộng sương sa tình ấm lạnh
Mây tan khói lãng nghĩa nông sâu
Nhân duyên quán chiếu xa niềm nhớ
Sinh diệt liễu tường lắng nỗi sầu
Đá nở hoa xuân vương cửa đạo
Nghìn trùng ly biệt vẫn trong nhau.
Ven phố chợ, lạc bước người
Tìm đâu trong gió nụ cười cố nhân
Về bến vắng, gác phong trần
Chợt nghe con nước phân vân lệ trào!
Viễn phương bụi đốm phủ tăng hài
Dặm khách chất đầy: nỗi nhớ ai
Sao mãi hóa duyên: tình xứ lạ
Nên còn quán niệm: giấc hồ say
Người xa trộm ngắm hồn sương vỡ
Đêm muộn lẻn nhìn bóng nguyệt lay
Phố cũ cố quên: niềm mộng mị
Chén đời trút cạn cuộc trần vay!
 
 
ĐỌC “GIỌT TRẦM VỠ HƯƠNG” CỦA SƯ KHẢI TĨNH
Nhận được tập thơ “Giọt Trầm Vỡ Hương” của một vị Sư trẻ qua lời giới thiệu của một tiểu thư Hà thành, nhờ tôi viết lời tựa. Sau khi đọc qua vài bài, tôi nhắn với chị:
“Đường thi, quan trọng là cái hồn. Hồn thơ phảng phất, thâm u và quý phái, như của vị Sư Khải Tĩnh là của hiếm trong thời buổi này. Nhất là kết cấu của một bài thơ, đề, thực, luận, kết, đối nhau chan chát mà vẫn không lộ công phu dùng chữ, không khiên cưỡng…, thật đáng bậc thầy thơ Đường rồi! Kẻ vô danh tiểu tốt như Thầy NH của chị đâu dám múa bút viết lời tựa. Để Sư ấy tự chọn người đi chị ạ!”
Sau mấy ngày nhắn qua nhắn lại, nhất là sau khi nhận được điện thoại của vị Sư trẻ, tôi đã nhận lời giới thiệu. “Giọt trầm” thì đã mong manh, lại còn “vỡ” nữa thì làm sao mà nắm bắt? Lời giới thiệu thì không phải bình thơ, phân tích thơ, nên thực ra cũng dễ. Nhưng nếu quảng cáo một món hàng mà không biết chất lượng của món hàng ấy, đôi khi phản tác dụng. Đó là nói những sản phẩm bình thường, huống là đối với thơ. Vì vậy, tôi phải ngồi đọc chậm rãi từng câu, hơn một trăm bài Đường luật thất ngôn bát cú, cả những bài lục bát, song thất lục bát cổ phong, tôi nghĩ mình đã nhận làm một việc quá sức của mình, nhất là khi biết Sư Khải Tĩnh là đệ tử của một thi bá đã từng “Chèo Vỡ Sông Trăng”.
Tôi vốn rất thích Đường thi. Đường thi chứ không phải thơ Đường luật thất ngôn bát cú như trong trường quy của các ông Nghè, ông Cống trong văn học Việt Nam. Vì vậy, sau những Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn thời tiền chiến, tôi nghĩ thơ Đường luật không còn là món ăn tinh thần của các thế hệ bây giờ. Tuy vẫn còn những văn đàn thù tạc họa vận Đường thi, nhưng người ta đã nói đến thơ hiện đại, hậu hiện đại, thì những kẻ làm “thơ có chân” như tập “Giọt Trầm Vỡ Hương” của Sư Khải Tĩnh quả là của hiếm.
Thử bước vào khu rừng đầy kỳ hoa dị thảo của “Giọt Trầm Vỡ Hương”. Ôi! Nhiều hoa thơm trái lạ quá! Nhưng bảo tôi đưa tôi ngắt lấy một nhành hoa mình thích, một quả ngọt mình ưa, thì tôi ngỡ ngàng đi mãi đến cuối rừng. Đôi lúc muốn dừng lại ngửi một chút hương, ngắm một sắc hoa, nhưng chân lại muốn bước đi tiếp. Khi quay trở lại tìm kiếm, tôi đã bước luôn ra khỏi rừng. Đây có thể là thất bại của tôi, hay của chính khu rừng lộng lẫy, kiêu sa kia, tôi không biết nữa!
Tôi đi tìm cái gì? Tôi đi tìm dù chỉ một câu, với đầy đủ sự hồn nhiên ngẫu nhĩ, “chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ”, như của Quách Tấn:
“Sầu mong theo lệ, khôn rơi lệ
Nhớ gửi vào thơ, nghĩ tội thơ”.
Thoạt đầu, những hình ảnh ấn tượng vẽ nên một không gian thật Thiền vị của nét văn hóa Huyền Không Sơn Thượng, nhưng chẳng phải vị Sư trẻ chỉ muốn tiêu ngày đoạn tháng với cái thú nhàn nhã rất ăn khách đó. Chàng tu sĩ trẻ khao khát đi tìm chính mình trên ngõ hồn ngát lạnh cùng trái tim nóng bỏng với “Chí Ngàn Dâu”:
“Xé màn tục lụy, vùi non thẳm
Cắt sợi ái tình, thả vực sâu”.
Hay:
“Nghịch cảnh rèn tâm, tâm đại sĩ
Chướng duyên mài chí, chí sơn tăng”.
Nhưng người thơ cũng như hành giả, đâu thể chỉ cuộn mình trong giấc cô miên. Nỗi khao khát đập vỡ thành sầu đã dẫn người thơ lên đường đầy những “Nỗi Quan San”, những “Sầu Ly Biệt”, những “Phủi rơi trăm sự trần hoa đốm/ Gửi áng mây qua cuộc mộng trường” (Trần Hoa Đốm). Rồi “Quẳng lại sau lưng bao nỗi nhớ/ Xua đi trước mắt bấy niềm thương” (Tĩnh Tuệ Hương).
Tôi cũng đã từng đi qua những năm tháng như thế, nên tôi đã gặp lại chính mình, và bật khóc khi đọc mấy vần thơ này của Khải Tĩnh:
“Đất lạnh ngàn năm chờ nắng ấm
Cỏ sầu muôn thuở đợi mưa vơi
Chén trà liêu vắng buồn thôi ngẫm
Kinh kệ an nhiên, lặng tiếng đời”.
(Giọt Tình Rơi)
Cứ thế, tôi đã đọc hết tập thơ. Ai bảo thơ là Đạo? Tôi nghĩ cứ khi nào Khải Tĩnh nói về Đạo là dường như thất bại. Ai bảo thơ là trần gian tục lụy? Tôi chẳng thấy Khải Tĩnh tục lụy chút nào, thậm chí là hoàn toàn thoát tục, với những vần thơ sóng sánh chữ nghĩa kinh thư. Ngôn ngữ đẹp, hình tượng trau chuốt, ý tứ đối nhau điêu luyện, vị Sư trẻ đa tình, “đa tình thị Phật tâm”, cái lớn của Khải Tĩnh là đã viết thơ tình bằng Đường luật, một việc làm can đảm, liều lĩnh, nhưng đã khá thành công. Đôi chỗ dùng chữ Hán còn vụng, khó hiểu, như “Hạt Miên Du”, “Vọng Hẩu Âm”, nhưng càng về sau, có nhiều câu thơ rực sáng như một cơn hoát nhiên cảm ngộ, đẹp một cách phi thường:
“Tàng kinh mật nghĩa miên trường
Ngữ ngôn lách cách vỡ sương ảo huyền”.
Hay như trong một bài lục bát cuối tập, “Đại Bi Mộc Trầm”, hay đến sững sờ người đọc:
“Tuổi chiều gậy trúc lên non
Gặn lòng tự vấn: mất còn được chi?
Chợt nghe đá cỏ thầm thì…
Khổ đau diệu chất đại bi mộc trầm
Tuế hàn trưởng tuệ cao lâm
Tuyệt hương tụ bởi vết dằm trong tim”.
Chao ôi! Thơ ấy mới thật là thơ, nào phải chỉ là ý tưởng giáo điều lên lớp độc giả. Tôi biết mình không thể làm được như thế, nên đã từ lâu quăng bút, chẳng dám làm nổi một câu thơ. Thiết tưởng Khải Tĩnh chỉ cần chọn đại khoảng ba bốn mươi bài trong “Giọt Trầm Vỡ Hương” để in, đủ để người đọc thấy được cái lớn, cái thành công của vị sư trẻ này rồi.
Người làm thơ, tâm và cảnh giao nhau. Làm sao tâm mất mà cảnh cũng chẳng còn? Đây là chỗ tuyệt trù của thi ca! Trong “Tham Đồ Hiển Quyết” của Viên Chiếu có đoạn đối thoại khá thú vị:
- Hỏi: Tâm pháp song vong tính tức chân. Thế nào là chân?
Sư đáp:
Vũ trích nham hoa thần nữ lệ
Phong xao đình trúc Bá Nha cầm
(Mưa đẫm hoa rừng: Thần nữ khóc
Gió lùa trúc ngõ: Bá Nha đàn)
Đó là Viên Chiếu, một Thiền sư Việt Nam thời Lý. Còn Khải Tĩnh, vị Sư trẻ Việt Nam hiện đại, giữa tâm và pháp, Sư đã quên được gì cho ngôn ngữ lên ngôi?
Tôi vẫn thích cái thật, cái hồn nhiên, tự sự:
“Lắm lúc nhức tê, đau vậy đấy
Đôi khi quên nhớ, khổ gì đâu
Tết này già nhỉ, đừng buồn nữa
Thôi kệ gắng tu…ấy mới ngầu”
(Già Thật Rồi)
Nhưng độc giả khó tính thì không muốn tôi giới thiệu những câu thơ như thế. Nên sau khi ra khỏi khu rừng, nếu bảo tôi quay lại hái một cành hoa, tôi sẽ hái cành hoa ngay trước mắt này:
“Góc núi mình ên ngồi độc ẩm
Đầu xuân bẻ bút ngắm mưa bay”
(Bè Văn Bến Mộng)
Thùy Ngữ Thất, mùa an cư năm Nhâm Dần
Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền
 

                            

No comments:

Post a Comment

Nhiều tác giả 3

BẮC MỸ MÙA THU    Lá vàng vài chiếc rớt bên sân, Nghe tiếng thu đang đến thật gần. Gió thổi vi vu như sáo nhạc, Mây trôi bàng bạc tựa sông n...